Thứ Hai, 25 tháng 6, 2018

QUÀ TẶNG TỪ TẤM LÒNG



Quà Tặng Của Tấm Lòng

Môi-se nói cùng cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Đây là các lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn: Hãy lấy một lễ vật chi ở nhà các ngươi mà dâng cho Đức Giê-hô-va. Hễ người nào có lòng thành dâng cho, hãy đem lễ vật cho Đức Giê-hô-va: vàng, bạc và đồng — Xuất Êdíptô ký 35:4–5

Hầu hết chúng ta đã được phước với những món quà từ nhiều người trong đời sống của chúng ta. Có quà rất đắt tiền và các món quà khác thì đơn sơ thôi. Có món quà chúng ta rất ưa thích; những quà khác chúng ta giả vờ như chúng ta rất thích vậy. Nhưng loại quà mà chúng ta sẽ luôn nhớ đến là loại quà được trao tặng từ một chỗ yêu thương sâu sắc – ngay cả món quà ấy chẳng là gì khác hơn là một tác phẩm “nghệ thuật” từ một đứa trẻ trong cuộc sống của chúng ta. Những món quà đó là vô giá.

Trong Xuất Ê-díp-tô ký 35, chúng ta đọc về việc xây dựng Đền Tạm, trong tiếng Hy-bá-lai, mishkan, là nhà tạm của Đức Chúa Trời. Bậc thánh hiền Do-thái chỉ ra sự thực rằng mishkan chưa bao giờ bị hủy diệt. Không giống như hai Đền Thánh, được xây dựng như những cấu trúc thường trực, mishkan không hề rơi vào tay kẻ thù. Khi nó không còn cần thiết nữa (vì Đền Thờ đã được xây), nó chỉ bị tháo rời và cất đi. Truyền khẩu Do-thái dạy rằng nó đã được chôn sâu dưới Núi Đền Thờ.

Làm sao mà ngôi nhà “thường trực” của Đức Chúa Trời lại dễ bị phá diệt, trong khi nhà tạm dễ bị hư hỏng hơn dường như là vô địch?

Bậc thánh hiền kể những đóng góp cho việc xây dựng mishkan với tuổi thọ của nó. Cụ thể hơn, họ giải thích rằng ấy chẳng phải các thứ được dâng lên giống như những đóng góp – Đức Chúa Trời chỉ yêu cầu một thứ từ "những gì ngươi có" — bất cứ thứ chi không quá đắt đỏ. Sức mạnh nằm ở cách món quà được dâng lên. Chúng được dâng lên từ một tấm lòng "sẵn sàng" kìa. Chúng là những đóng góp được thực hiện với tình yêu thương, và do đó, là món quà tốt nhứt khả thi.

Ngược lại, chúng ta học biết rằng khi Đền Thờ Thứ Nhất được xây dựng, nhiều đóng góp đến từ Hi-ram, vua của Ty-rơ:Vậy, Hi-ram làm xong mọi công việc cho Sa-lô-môn trong đền của Đức Giê-hô-va (I Các Vua 7:40). Bậc thánh hiền giải thích rằng những đóng góp của Hi-ram là niềm tự hào của chính ông nhiều hơn tình yêu của ông dành cho Đức Chúa Trời. Vì Đền Thờ không có cùng một lượng tình yêu trong việc xây dựng nên nó yếu ớt hơn mishkan, phải nói như thế, mặc dù vật liệu thuộc thể của nó dường như mạnh mẽ hơn nhiều.

Bài học cần phải tiếp thu, ấy là khi nói đến việc dâng hiến — cả hai: cho những người chúng ta quen biết trong cuộc sống và cho các mục đích của Đức Chúa Trời – chúng ta cần phải chú ý đến cách chúng ta dâng đối với các thứ chúng ta dâng. Khi chúng ta mở ví của mình ra, trước tiên chúng ta phải mở lòng mình ra. Bằng cách đó, chúng ta sẽ bảo đảm rằng mọi thứ chúng ta dâng hiến đi một chặng đường dài, thật dài và bất cứ của lễ nào của chúng ta sẽ được mạnh mẽ và lâu dài, điều đó là khả thi. Vì vậy, bất cứ món quà nào của bạn trao cho người khác hôm nay, dù món quà ấy lớn hay nhỏ, hãy trao nó đi bằng tình yêu từ một tấm lòng sẵn sàng.


Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2018

SAU PHÉP LẠ



Sau Phép Lạ

Còn chúng tôi là dân sự Chúa, và là bầy chiên của đồng cỏ Chúa, chúng tôi sẽ cảm tạ Chúa mãi mãi; Từ đời nầy qua đời kia chúng tôi sẽ truyền ra sự ngợi khen Chúa — Thi thiên 79:13

Trong rất nhiều Thi thiên như thế, mục tiêu là cần một phép lạ, cầu nguyện xin phép lạ, và nhận lãnh chúng. Tuy nhiên, tuần này, tôi muốn tập trung vào một phương diện khác của việc nhận lãnh phép lạ trong đời sống của chúng ta: Việc gì xảy ra sau khi chúng ta nhận lãnh chúng? Có phải chúng ta quên đi các phép lạ rồi cứ bước tới đàng trước hay không? Hoặc có phải chúng ta nhớ đến chúng và hành động sao cho phù hợp?

Mới đây tôi có đọc một câu chuyện nói về cụ già kia mỗi tuần một lần đi bộ gần khu bến tàu bị bỏ hoang trên bờ biển với cái xô đầy tôm để cho chim mòng biển ăn. Đại uý Eddie Rickenbacker đã làm điều này cho đến khi ông qua đời vào năm 1973. Lý do? Vào năm 1942 trong Đệ II Thế Chiến, Rickenbacker đãm nhận một nhiệm vụ quan trọng khi chiếc máy bay của ông bị lạc và sắp hết nhiên liệu, bắt buộc Đại uý và phi hành đoàn của ông phải đáp máy bay của mình trên biển. Trong gần một tháng, những người này đã chiến đấu với nhiều vấn đề, nhưng tồi tệ nhất trong khổ nạn của họ là thiếu thức ăn. Sau tám ngày trên biển, số người này không còn có thức ăn nữa.

Nhiều năm sau, Đại uý nhớ lại thể nào vào một buổi trưa Chúa nhật, sau khi số người ấy cầu xin sao cho mình được cứu và hát những bài thánh ca ngợi khen, ông lấy nón che mặt rồi bắt đầu chìm vào giấc ngủ. Đột nhiên, một cái gì đó đậu trên đầu ông. Thì ra đó là con chim mòng biển, hàng trăm dặm từ môi trường sống tự nhiên của nó. Số người này đã bắt con chim mòng biển đó rồi ăn nó. Họ sử dụng bộ lòng của nó để bắt cá, để họ sống sót cho đến khi họ được giải cứu. Com chim mòng biển đó đáp xuống từ bầu trời giống như ma-na trong sa mạc đã cứu Rickenbacker và phi hành đoàn của ông. Và ông không bao giờ quên việc ấy.

Đấy là lý do tại sao đại uý cho chim mòng biển ăn mỗi tuần cho đến khi ông qua đời. Bằng cách đó, ông đã bày tỏ thái độ biết ơn về phép lạ mà ông đã nhận được trước đây từ lâu. Thi thiên 79 kết luận: Còn chúng tôi là dân sự Chúa, và là bầy chiên của đồng cỏ Chúa, chúng tôi sẽ cảm tạ Chúa mãi mãi; Từ đời nầy qua đời kia chúng tôi sẽ truyền ra sự ngợi khen Chúa. Khi chúng ta nhận lãnh một phép lạ trong đời sống chúng ta, chúng ta không thể cứ tiếp tục sống như chẳng có gì xảy ra. Chúng ta phải ghi nhớ và bày tỏ lòng biết ơn của chúng ta, ngợi khen Đức Chúa Trời bằng khả năng của chính chúng ta và trước mặt nhiều người khác.

Tuy nhiên, Đại uý Rickenbacker cũng dạy chúng ta biết rằng có nhiều cách để bày tỏ lòng biết ơn. Một cách là với môi miệng của chúng ta, còn cách khác là với hành động của chúng ta. Khi chúng ta dâng lại cho các ý định của Đức Chúa Trời để tôn vinh các phép lạ mà Ngài đã làm ra cho chúng ta, không những chúng ta dâng sự vinh hiển cho danh Ngài, mà còn góp phần cho Vương quốc của Ngài nữa.

Hết thảy chúng ta đã nhận lãnh ít nhất một phép lạ trong đời sống của chúng ta — phép lạ của chính sự sống. Chúng ta bày tỏ thái độ biết ơn như thế nào hôm nay?


DÒNG SUỐI ĐỨC TIN



Dòng Suối Đức Tin

Tháng giêng, cả hội dân Y-sơ-ra-ên tới đồng vắng Xin; và dừng lại tại Ca-đe. Mi-ri-am qua đời và được chôn tại đó — Dân số ký 20:1

Mới đây, mẹ của người bạn thân tôi vừa mất đi. Khi cô ấy đang than khóc mẹ, bạn tôi nhận xét rằng không những đó là sự hiện diện thực sự của người đàn bà đã nuôi nấng cô mà cô đã nhớ đến. Qua những giọt nước mắt, cô ấy nói: "Bây giờ ai sẽ là vầng đá của con chứ? Ai sẽ nói với con rằng mọi thứ sẽ ổn thôi?” Một số người trong cuộc sống của chúng ta cảm thúc nhiều đức tin nơi chúng ta đến nỗi chúng ta không biết phải tiếp tục sống như thế nào nếu không có họ. Họ đầy dẫy chúng ta với hy vọng ban sự sống cung ứng cho chúng ta sự can đảm để tiếp tục tin tưởng trong chuyến hành trình sự sống của chúng ta.

Đối với con cái Israel, Mi-ri-am, chị của Môi-se, là người đó, và trong phần đọc Ngũ kinh tuần này [Dân số ký 19:1 – 22:1; Các Quan Xét 11:1 – 33], Mi-ri-am đã qua đời. Ngay sau cái chết của bà, chúng ta đọc thấy rằng nguồn nước cho dân sự đã cạn kiệt. Bao lâu Mi-ri-am còn sống, một cái giếng nước đã đi cùng dân sự khi họ phiêu bạt trong sa mạc, cung ứng mọi nhu cần về nước của họ. Nó tồn tại chỉ vì công đức của Mi-ri-am, và một khi bà đã qua đời, nước ban sự sống kỳ diệu không còn có nữa.

Bậc thánh hiền Do-thái chỉ ra rằng truyện tích Mi-ri-am đã khởi sự với nước và kết thúc với nước. Lần đầu tiên chúng ta gặp Mi-ri-am là người chị đã chờ đợi bên dòng sông Ni-lơ khi em trai Môi-se của cô đang trôi nổi trong một cái rương. Tại sao Mi-ri-am lại có mặt ở đó chứ? Bậc thánh hiền dạy rằng cô muốn xem Môi-se sẽ được cứu như thế nào đấy thôi!?! Không phải là không biết Môi-se có được cứu hay không, mà là cách nào kìa, bởi vì cô đã có tất cả đức tin trên thế gian rằng em mình sẽ được cứu.

Khi ấy, cô dạn dĩ nói với con gái của Pha-ra-ôn rằng Môi-se là một người Hê-bơ-rơ và cần bà vú từ phụ nữ Do-thái. Tại sao Mi-ri-am không sợ con gái của Pha-ra-ôn sẽ quăng Môi-se xuống sông khi cha nàng đã ra lệnh chứ? Một lần nữa, Mi-ri-am vốn có đức tin nơi lời hứa của Đức Chúa Trời rằng Môi-se sẽ sống và giải cứu Israel.

Mi-ri-am tiếp tục là một dòng suối đức tin cho dân tộc Israel xuyên suốt thời kỳ nô lệ của họ. Chính bà là người đã cảm thúc nhiều người nữ chuẩn bị trống cơm để mừng ngày họ được cứu. Bà khuyến khích họ đừng bao giờ từ bỏ hy vọng về ngày ấy, và khi sự cứu chuộc đến, Mi-ri-am đã dẫn đầu những người nữ trong bài ca.

Mi-ri-am đã cảm thúc đức tin nhiều thể ấy giữa vòng dân sự cho thấy rằng biểu hiện thuộc thể của ân tứ thuộc linh đó là cái giếng nước đã tồn tại bao lâu bà còn sống.

Quí bạn ơi, hết thảy chúng ta đều có khả năng trở thành dòng suối đức tin cho gia đình, bạn bè và cộng đồng của chúng ta. Chúng ta có thể nói ra lời lẽ và sự khích lệ của đức tin. Chúng ta có thể đi đầu bằng cách nêu gương sống bởi đức tin và tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể cảm thúc những người ở xung quanh chúng ta và cung ứng cho họ với hy vọng ban sự sống. Giống như nước nuôi dưỡng thân thể, cũng một thể ấy, đức tin nuôi dưỡng linh hồn.