Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015

SỨC MẠNH CỦA NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN XUYÊN THỦNG THIÊN ĐÀNG



Sức Mạnh Của Những Lời Cầu Nguyện Xuyên Thủng Thiên Đàng
“Môi-se nổi giận lắm, thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Xin đừng kể đến của lễ chay chúng nó nữa; tôi không có bắt nơi chúng nó một con lừa nào, và tôi cũng không có làm hại một ai trong bọn chúng nó — Dân số ký 16:15

Ở giữa cuộc nổi loạn do Cô-rê lãnh đạo và bế tắc giữa Cô-rê và A-rôn, Môise ra lịnh vào ngày hôm sau, chúng ta tìm thấy một lời cầu xin thật đặc biệt. Môise đã xin Đức Chúa Trời: “Xin đừng kể đến của lễ chay chúng nó nữa…”.

Giờ đây, nếu như Cô-rê có thể đánh lừa một vài lãnh đạo của Israel cùng nhiều kẻ chạy theo hắn, chắc chắn hắn sẽ không đánh lừa được Đức Chúa Trời, là Đấng nhìn thấy tận đáy lòng của người ta. Chắc chắn là Đức Chúa Trời biết rõ Môise và Arôn là những người công nghĩa và biết hạ mình, trong khi Cô-rê là kẻ ganh tỵ và kiêu căng. Những kẻ chạy theo Cô-rê đã bị dẫn dụ sai lầm ở chỗ tốt nhứt và gian ác ở chỗ tệ hại nhất. Vì vậy, tại sao Môise lại ngại rằng Đức Chúa Trời sẽ chấp nhận các thứ của lễ nơi những kẻ loạn nghịch nầy hơn là các của lễ của Arôn?

Bậc thánh hiền Do thái dạy rằng khi Môise xin Đức Chúa Trời đừng kể đến của lễ của kẻ loạn nghịch, ông đang đề cập đến những lời cầu nguyện của họ. Môise đã xin Đức Chúa Trời đừng kể đến những lời cầu nguyện của số người nầy. Nhưng một lần nữa, tại sao Môise lại nghĩ rằng Đức Chúa Trời sẽ xem xét những lời cầu xin của hạng người thể ấy trong chỗ thứ nhứt?

Chúng ta tìm thấy một tình huống tương tự đang diễn ra trong thời điểm Đền Thờ đứng sừng sững tại thành Jerusalem. Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm sẽ bước vào nơi chí thánh vào ngày lễ Yom Kippur, ngày Lễ Chuộc Tội, và thi hành một chức vụ thiêng liêng nhất. Sau khi thực hiện xong, ông rời khỏi nơi thánh, ông sẽ thốt ra thêm một lời cầu nguyện nữa. Lời cầu nguyện đó xin Đức Chúa Trời đừng lắng nghe những lời cầu xin của những khách hành hương.

Những khách hành hương sẽ cầu nguyện với Đức Chúa Trời, cầu xin trời đừng mưa đang khi họ có mặt trên chuyến hành trình. Tuy nhiên, nếu Đức Chúa Trời nhậm từng lời cầu xin của khách hành hương, trời sẽ không bao giờ mưa và mùa màng sẽ mất ráo. Vì lẽ đó, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm cần phải can thiệp. Nhưng một lần nữa, tại sao Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm lại e ngại Đức Chúa Trời sẽ xem xét đáp lời cầu xin của mọi người chứ?

Bậc thánh hiền dạy rằng cả hai bối cảnh chúng ta học được về sức mạnh của lời cầu xin chơn thật, hết lòng – một sức mạnh có lẽ chúng ta thậm chí không thể hiểu được. Mặc dù lời cầu xin của những người nổi loạn có thể bắt nguồn từ chỗ tự lợi, kỳ thực họ hoàn toàn công nhận Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị và chiều sâu sự nương cậy của họ nhắm vào sự can thiệp của Ngài để có thể gửi lời cầu xin của họ bủa khắp các từng trời. Đấy là sức mạnh của những lời cầu nguyện đó, và đấy là lý do tại sao những lời cầu xin của họ đã bị ngăn chặn.


Quí bạn ơi, nếu những lời cầu nguyện hết lòng bắt nguồn từ những dự tính tư lợi có thể xuyên thủng các từng trời, hãy tưởng tượng những lời cầu nguyện chơn thật của chúng ta sẽ ra sao vì cớ Nước Trời có thể đạt được. Do thái giáo dạy rằng cầu nguyện giống như cây cung và mũi tên. Mũi tên càng được kéo sâu về phía sau, nó sẽ bắn đi càng xa hơn hết. Vì thế, khi những lời cầu nguyện của chúng ta toát ra từ những chỗ sâu thẳm nhất của đáy lòng, chúng cũng xuyên thấu các từng trời rồi dừng lại ở trước ngai thánh của Đức Chúa Trời.

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2015

DẤY LÊN CAO HƠN



Dấy Lên Cao Hơn
“Môi-se sai đòi Đa-than và A-bi-ram, con trai Ê-li-áp; nhưng hai người đáp rằng: Chúng tôi không đi lên đâu — Dân số ký 16:12

Stan Mikita là cầu thủ khúc côn cầu chuyên nghiệp trên băng, ông được xem là trọng tâm tốt nhứt từ thập niên 60. Mikita nổi tiếng trong việc sẵn sàng va chạm trong suốt các trận đấu, và như một kết quả, ông tốn nhiều thì giờ có mặt trong vùng cấm địa. Tuy nhiên, ông đã dừng lại khi đứa con gái 8 tuổi hỏi ông một câu rất vô tư: “Làm sao ba có thể ghi bàn một khi lúc nào ba cũng ở trong vùng cấm địa chứ?”

Nếu không có gì khác, sứ điệp trong phân đoạn Kinh thánh tuần nầy nói tới sự loạn nghịch chống lại Môise và Arôn là trận đánh tồi tệ cho mọi người. Chắc chắn là có những lúc phải đứng dậy vì điều chi đúng đắn rồi thậm chí phấn đấu cho điều đó, song đấy chẳng phải là loại phấn đấu mà chúng ta đang nói tới, đấy cũng chẳng phải là loại đấu tranh đã diễn ra trong phần đọc Kinh thánh tuần nầy. Cuộc nổi loạn nầy do các cấp lãnh đạo hay ganh tỵ, họ tự cao tự đại với những động cơ thầm kín vô lý.

Trong Do thái giáo, có một thuật ngữ Hy-bá-lai rất đặc biệt được sử dụng để nói tới những lần cãi lẫy như thế. Thuật ngữ ấy gọi là machloket, và khi các mẫu tự Hy-bá-lai được tráo đi, chúng kết thành chelek mavetý nói “chết từng phần”. Phàn nàn và đấu tranh thể ấy là một loại chết chóc, và trong trường hợp của Cô-rê cùng những kẻ theo người, cuộc đấu tranh đó đã kết quả bằng sự chết. Sự loạn nghịch của Cô-rê không những dẫn tới cái chết của ông, mà còn dẫn tới cái chết của 250 người theo ông và 15.000 người Do thái khác đã ngã chết từ hệ quả của sự nổi loạn đó. Đấu tranh nhỏ nhặt, nhưng tàn nhẫn như thế đã được sánh với làn khói thuốc lá. Nó làm bẫn bầu không khí và làm hại cho nhiều người vô tội.

Những người bị tổn thương từ việc tham gia vào cuộc đấu tranh thể ấy vẫn là những kẻ tự chuốc hại lấy thân. Trong phân đoạn Kinh thánh, chúng ta đọc thấy rằng Môise đã chìa tay ra cho Đathan và Abiram, là những kẻ đồng hỗ trợ cho Cô-rê. Môise đã chìa tay ra trong sự thuận hiệp. Tuy nhiên, đáp ứng của Đathan và Abiram là: “Chúng tôi không đến đâu Họ bị cái tôi cùng các nan đề tư riêng mình bọc lấy đến nỗi họ không bằng lòng “trao cho hòa thuận một cơ hội”. Bậc thánh hiền Do thái chỉ ra rằng theo ngôn ngữ Hy-bá-lai, lời lẽ của Đathan và Abiram được chuyển dịch như sau: “Chúng tôi không đi lên đâu”. Với lời lẽ đó, họ đã đóng ấn chính số phận của họ. Khi họ từ chối Môise, họ bị định phải đi xuống cái hố, không bao giờ trở lên được nữa.

Dường như là mình tỏ ra yếu đuối và tự hạ thấp xuống khi chúng ta bước ra khỏi cuộc đấu tranh hoặc khi chúng ta tìm cách thực hiện những sửa đổi. Nhưng sự thực, ấy là khi phải chìa tay ra với mối tương giao và sự tha thứ, chúng ta đang dấy lên cao hơn. Vì vậy, có nhiều người để cho sự kiêu ngạo của họ cứ thẳng con đường tiến của nó. Họ tưởng họ đang bảo đảm vị trí cao cả của họ bằng cách từ chối cách thức nào khác. Nhưng khi chúng ta tiếp thu từ phần đọc Kinh thánh tuần nầy, khi chúng ta lên mình kiêu ngạo, chúng ta vấp ngã hoàn toàn; tuy nhiên, khi chúng ta tự hạ mình xuống giống như Môise đã làm, chúng ta đang dấy lên cao hơn đấy thôi.

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

VUI VẺ VỚI PHẦN CỦA MÌNH


Vui Vẻ Với Phần Của Mình
“Môi-se nói cùng Cô-rê rằng: Hỡi con cháu Lê-vi, bây giờ hãy nghe. Về phần các ngươi, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã biệt các ngươi riêng ra với hội chúng Y-sơ-ra-ên, và khiến các ngươi đến gần Ngài đặng làm công việc trong đền tạm của Đức Giê-hô-va, đặng chực hầu việc trước mặt hội chúng, việc ấy há là nhỏ mọn sao? – Dân số ký 16:8–9

Bậc thánh hiền Do thái hỏi trong Kinh  Talmud: “Ai là người giàu có?” Họ đáp: “Người nào vui vẻ với phần của mình”. Phân đoạn Kinh thánh tuần nầy gợi lại sự loạn nghịch của Cô-rê nghịch với Môise và Arôn. Nếu giàu có được xác định bởi bao nhiêu thứ mà một người có, thì Cô-rê là một trong những người giàu có nhất đã từng sống. Tuy nhiên, nếu bạn đánh giá sự giàu có của một người bằng định nghĩa của bậc thánh hiền, sẽ chẳng có một người nào nghèo khổ đâu. Cô-rê đã có mọi sự trong thế gian, song vẫn chưa phải là hạnh phúc.
Cô-rê là một người Lêvi, ra từ dòng Kê-hát, là người được giao cho một trong những vai trò quan trọng nhất giữa vòng dân sự. Họ đã được ấn định cho phần việc quan trọng mang lấy các khí cụ thánh của Đền thờ bất cứ khi nào dân Israel ra đi. Về mặt cá nhân, họ đã khiêng Hòm Giao Ước, chân đèn, cùng các thứ khác nữa. Đúng là một đặc ân! Tuy nhiên, đặc ấy ấy cũng có một giới hạn. Trong khi người Lêvi khiêng các đồ vật thánh khiết nhất trong thế gian, họ đã bị cấm không được nhìn vào chúng.

Đây là gốc rễ tình trạng bất hạnh của Cô-rê. Ông ta sống gần gũi Chúa và quan trọng như thế, tuy nhiên chưa quan trọng và gần gũi bằng các thầy tế lễ, họ có thể nhìn xem và làm những việc đã cấm đoán đối với ông. Thiệt là đơn giãn, Cô-rê đã sanh lòng ghen tương. Vì mọi sự mà ông đã có, ông cảm thấy mình vẫn còn thiếu thốn.

Tôi có nghe kể một câu chuyện từ một vị rabi tại thành Jerusalem, câu chuyện nầy cung ứng cho chúng ta nhiều triễn vọng. Vị rabi thuật lại một cậu bé kia khi có người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng. Nó quan sát máy vô tuyến truyền hình với anh của nó, cả hai ngồi dán mắt vào TV với sự kính nể các phi hành gia. Vị rabi nhớ đứa em nói: “Em sợ cho gã phải ngồi trên chiếc tàu con thoi trong khi các phi hành gia kia đã hạ cánh rồi đi bộ trên mặt trăng! Ông ta ở rất gần với mặt trăng, song ông ta không thể đi bộ trên mặt trăng được”. Anh nó đáp: “Anh dám chắc ông ta yên tâm hơn. Phi hành gia trên tàu con thoi vốn hiểu rằng nếu ông ta rời khỏi đó, cả hai người kia sẽ bị kẹt trên mặt trăng cho đến đời đời luôn! Ông ta nhìn biết vai trò của mình quan trọng là dường nào, và vì thế ông ấy không ghen tương với hai người kia”.

Trong câu nói ấy có thuốc giải độc cho sự ghen tương mà Cô-rê đã có — và cần phải thành thực, chúng ta cảm nhận hết lúc nầy đến lúc khác như thế là dường nào. Chúng ta phải nhìn biết vai trò của mình do Đức Chúa Trời ban cho là quan trọng đến nỗi chúng ta không nên ghen tương đối với công việc của người khác trong thế gian. Chúng ta có một chỗ đứng trong gia đình và trong cộng đồng của chúng ta và có lẽ một công việc ở sở làm nữa. Hãy hiểu rõ vai trò bạn được ban cho mà không một người nào khác có thể phu phỉ được. Khi chúng ta sống vui vẻ với phần của mình, chúng ta sẽ chẳng thiếu thốn chi cả.


Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

NHỮNG ĐỘNG LỰC KHÔNG THẤY ĐƯỢC TRONG THẾ GIAN


Những Động Lực Không Thấy Được Trong Thế Gian
“Vả, Cô-rê, con trai của Dít-sê-ha, cháu của Kê-hát, chít của Lê-vi, giục theo mình Đa-than và A-bi-ram, con trai của Ê-li-áp, cùng với Ôn, con trai của Phê-lết, cháu Ru-bên” — Dân số ký 16:1

Phân đoạn Kinh thánh tuần nầy mở ra với sự nổi loạn khét tiếng của Cô-rê và những kẻ theo người. Bên cạnh Cô-rê, ba người được chỉ ra trong câu thứ nhứt: “Đa-than và A-bi-ram . . . cùng với Ôn, con trai của Phê-lết”. Thú vị thay, trong khi chúng ta nghe nói nhiều về Đa-than và A-bi-ram trong những câu nối theo sau, chúng ta chẳng biết gì nhiều về Ôn. Số phận của ông ta ra sao?

Theo truyền khẫu của Do thái giáo, trong khi Ôn bị cuốn hút vào cuộc nổi loạn, vợ ông đã có những ý tưởng khác và bà thật đã thay đổi số phận của ông. Bậc thánh hiền người Do thái dạy rằng bà đã làm ba việc. Thứ nhứt, bà nói với Ôn về các giới hạn mà ông có liên quan. Bà nói: “Việc nầy đem đến cho ông sự khác biệt gì chứ? Một là ông chịu phục vụ Môise hoặc ông sẽ phục vụ Cô-rê. Dù là cách nào, ông chẳng được gì cũng không mất gì”.

Việc thứ hai vợ Ôn đã làm là trao cho ông một thức uống mạnh đến nỗi khiến cho ông chìm vào giấc ngủ thật sâu, thật lâu, trong thời gian đó bà ra ngồi ở ngoài lều với mái tóc xủ ra. Một người đàn ông Do thái bị cấm nhìn vào mái tóc của một người đàn bà đã có chồng, vì vậy khi những kẻ nổi loạn đến để đón Ôn cùng đi sáng hôm sau, ông ta hãy còn ngủ và mái tóc xủ ra của vợ ông ta đã khiến cho mấy người kia phải tránh đi.
Sau cùng, khi đất há miệng ra để nuốt chửng những kẻ nổi loạn, vết nứt trên mặt đất chạy hướng về phía lều của Ôn và cái giường của ông nghiêng qua miệng hố. Vợ của Ôn vịn lấy cái giường rồi cầu thay cho mạng sống của ông. Lời cầu nguyện của bà được nhậm, và mạng sống của Ôn đã được buông tha.

Phần nhiều người trong chúng ta đã nhìn thấy những người thân của mình chọn lấy con đường sống có tính hủy diệt nên làm quen với vợ của Ôn. Chúng ta có thể tiếp thu từ vợ của Ôn để biết phản ứng trong một tình huống giống như vậy. Bà không kêu gào hay lên lớp chồng mình, thay vì thế bà đã nhắc nhở ông về những giới hạn của mình. Kế đó, bà đã làm những gì bà có thể làm để giữ các ảnh hưởng xấu kia phải lánh khỏi chồng mình, rồi sau cùng bà đã bày tỏ nỗi lòng của mình ra qua sự cầu nguyện. Sự kết hợp nầy đã làm xong công việc và đã làm thay đổi số phận người thân của mình.


Tuy nhiên, có một bài học khác ở đây cho chúng ta. Có người sẽ hỏi lý do tại sao câu chuyện nói tới vợ của Ôn không được ghi lại trong Kinh thánh. Nhưng đấy là chính xác là mục đích và là sứ điệp. Thê gian thường bị dời đổi bởi những nhân vật ở đàng sau bối cảnh. Chính người mẹ là người khích lệ con trai của mình. Người vợ là người cũng đã khuyên nhũ chồng mình. Người bạn là người nâng đỡ bạn mình trong thời kỳ gian nan. Người thầy là người thúc giục học trò biết làm những việc lớn. Giống như ngọn gió thổi qua không ai trông thấy được, song có thể đủ sức mạnh đưa con tàu về đến bến bờ của nó, chúng ta có thể giúp đỡ những người thân của mình cách thầm lặng, khiêm nhường và giúp cho họ trở thành mọi sự mà họ có thể trở thành.

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2015

BỞI ÂN ĐIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI


Bởi Ân Điển Của Đức Chúa Trời
Con đường Chúa ở trong biển, các lối Chúa ở trong nước sâu, còn các dấu bước Chúa không ai biết đến  — Thi thiên 77:19

Tháng Năm vừa qua, diễn viên đoạt giải Award Denzel Washington đã có lời phát biểu tại Đại học đường Dillard. Lời khuyên đầu tiên của ông dành cho những người tốt nghiệp về việc tham gia vào hành trình của cuộc sống gồm có 3 từ đơn giãn: “Đặt [Put]. Đức Chúa Trời [God]. Lên trên hết [First]”. Denzel giải thích: “Đặt Đức Chúa Trời lên trên hết trong mọi sự bạn làm. Mọi sự tôi có là bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Hãy hiều như thế. Đó là một sự ban cho”. Diễn viên nổi tiếng đã giải thích cho biết cách đó 40 năm, ông đã bị đánh rớt không vào được đại học, nhưng hoàn toàn với sự trợ giúp của Đức Chúa Trời, ông đã đạt được chỗ đứng hiện nay của ông.

Thi thiên 77 đưa ra phần tham khảo nói tới việc chia Biển Đỏ ra làm hai. Kỳ thực, không những Đức Chúa Trời đã từng chia biển ra làm hai cách đây hàng ngàn năm. Đức Chúa Trời đang chia biển ra làm hai từng ngày một. Làm sao có được việc ấy chứ? Có ba mệnh đề trong câu 19, từng mệnh đề một dạy cho chúng ta biết về các phép lạ mà Đức Chúa Trời đang thực hiện mỗi ngày trong đời sống của chúng ta.

Mệnh đề thứ nhứt ghi như sau: Con đường Chúa ở trong biển,. . .”. Đời sống của chúng ta thường giống như đại dương cuồng nộ kia – rối động, bất an, chẳng có một chỗ đứng chắc chắn nào hết. Chúng ta không thể nhìn thấy không biết rồi đây mình sẽ nếm trải cảnh ngộ như thế nào nữa, hoặc có lối thoát nào không trong khi chẳng có lối nào rõ ràng cả. Nhưng Đức Chúa Trời của chúng ta là một Đức Chúa Trời Ngài tạo ra một con đường ngang qua biển rồi giúp chúng ta vượt qua. Mặc dù có thể lắm chúng ta sẽ chạm đến chỗ kết thúc chết chóc kia, với ân điển của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể nếm trải mọi việc mà chúng ta không hề tưởng mình có thể và chúng ta sẽ đạt tới những đỉnh điểm mà chúng ta chưa hề mơ tới. Đức Chúa Trời của chúng ta đang mở ra một con đường ngang qua đại dương “của chúng ta”.


Mệnh đề thứ hai của câu ghi như sau: “các lối Chúa ở trong nước sâu…”. Trong nguyên bản tiếng Hy-bá-lai, câu nầy được dịch như sau: “Các lối (số nhiều) của Ngài đi ngang qua chỗ nước sâu . . .”. Bậc thánh hiền người Do thái bình luận rằng câu nầy đề cập đến truyền khẫu Do thái cho rằng khi Đức Chúa Trời chia Biển Đỏ ra làm hai, Ngài đã dựng nên 12 con đường khác nhau — mỗi con đường dành cho một chi phái trong 12 chi phái. Ý nghĩa, ấy là có nhiều con đường khác nhau trên chuyến hành trình đến cùng Đức Chúa Trời. Chúng ta mỗi người đều có sức lực và thách thức riêng biệt, và vì thế chuyến hành trình của đời sống chúng ta sẽ không giống như con đường của người khác. Đức Chúa Trời dựng nên nhiều lối đặc biệt cho mỗi một người chúng ta, và không một người nào có thể bước đi trên chuyến hành trình của người khác. Con đường mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta thì thuộc về chúng ta vì một lý do, và chúng ta cần phải nắm bắt trọn vẹn hành trình ấy.

Sau cùng, chúng ta đọc: “còn các dấu bước Chúa không ai biết đến”. Khi nhìn lại 40 sau đó, Denzel Washington có thể nhìn thấy cách thức Đức Chúa Trời dẫn dắt ông và đã giúp đỡ cho ông; tuy nhiên, bằng chứng không luôn luôn nhìn thấy cách dễ dàng đâu. Chúng ta cũng phải quan sát cho kỹ mới nhìn thấy ân điển của Đức Chúa Trời trong đời sống của chúng ta. Các dấu bước của Đức Chúa Trời có thể không xem thấy được, song sự hiện diện của Ngài là chắc chắn.


Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015

NGUYỆN Ý NGÀI ĐƯỢC NÊN


Nguyện Ý Ngài Được Nên
Giô-suê, con trai của Nun, từ Si-tim mật sai hai người do thám mà rằng: Hãy đi do thám xứ, nhất là Giê-ri-cô. Vậy, hai người ấy đi đến nhà của một kỵ nữ tên là Ra-háp, và ngụ tại đó — Giôsuê 2:1

Câu chuyện thuật lại về Rabi Joshua, ông vốn là người cực kỳ khôn khéo song bề ngoài trông không hấp dẫn lắm. Một ngày kia, vị rabi gặp gỡ con gái của Hoàng đế. Cô hỏi rất thẳng thắn: “Sao Đức Chúa Trời lại đặt nhiều sự khôn khéo trong một cái bình xấu xí như vậy chứ?” Thay vì nhắm vào lời bình của công chúa, Rabi Joshua hỏi lại: “Cha của cô giữ rượu ngon trong chỗ nào?” Công chúa đáp: “Trong mấy cái bình bằng đất nung”.

Vị rabi hỏi tiếp: “Chứa rượu ngon trong mấy cái bình đẹp kia thì không thích hợp sao?” Công chúa đồng ý và chuyển hết rượu ngon của cha cô vào mấy cái bình bằng vàng và bằng bạc. Không lâu sau đó, tất cả rượu đều hóa chua. Khi công chúa gặp lại vị rabi, cô thuật lại cho ông biết mọi việc đã xảy ra. Đổi lại, rabi Joshua giải thích bài học mà ông muốn cô công chúa kia phải tiếp thu: Giống như rượu ngon được lưu giữ tốt nhất trong mấy cái bình đơn sơ, chẳng có gì hấp dẫn, thì sự khôn ngoan cũng một thể ấy.

Trong phần đọc Kinh thánh tuần nầy, chúng ta học biết thể nào các thám tử đã được sai phái vào xứ Israel đã đưa ra một báo cáo xấu về đất đai. Khi đọc phần Kinh thánh liên quan, khoảng 38 năm sau đó, và Joshua đã sai hai thám tử đi do thám xứ. Lần nầy, họ không đem về một báo cáo tiêu cực; thay vì thế họ đã nhận được thông tin cần thiết để đánh chiếm lấy xứ và thành công đem mọi điều biết mà họ thu thập được trình cho Giôsuê. Không lâu sau đó, Giôsuê đã dẫn con cái Israel vào trong Đất Hứa.

Bậc thánh hiền Do thái dạy rằng khi các thám tử đi do thám xứ, họ tự đội lốt làm những người thợ gốm rồi cứ rao: “Bình gốm đây! Bình gốm đây!” Tuy nhiên, không những đây là cách giải thích mọi việc mà các thám tử đã lo làm; mà còn là một mô tả tình trạng lý trí của họ nữa. Khi 10 thám tử được sai đi trong thời của Môise mang về báo cáo xấu về đất đai, họ đang làm theo lối suy nghĩ riêng của họ. Họ đã tự mình thôi không chìu theo ý muốn của Đức Chúa Trời và làm theo ý riêng của họ.

Ngược lại, các thám tử của Giôsuê thì giống như mấy cái bình bằng đất nung. Loại bình nầy chẳng có chút giá trị gì ở bề ngoài của chúng, giống như mấy cái bình được làm bằng bạc, vàng, hay sắt. Giá trị duy nhứt của cái bình bằng đất nung là khả năng giữ lấy vật nó chứa. Tương tự, hai người nầy chẳng có chút giá trị gì nơi dáng dấp bề ngoài của họ. Thay vì thế, họ đã nhìn thấy giá trị duy nhứt khi phục vụ trong vai trò mấy cái bình cho ý muốn của Đức Chúa Trời. Kết quả cho thấy rằng họ đã thành công ở chỗ nhiều người khác đã thất bại. Một trong những lời cầu nguyện có năng quyền nhất mà chúng ta có thể đưa ra là cầu xin Đức Chúa Trời sử dụng chúng ta trong vai trò một cái bình. Bậc thánh hiền dạy: “Hãy biến ý muốn Ngài thành ra ý muốn của các ngươi, để Ngài sẽ biến ý muốn của các ngươi thành ra ý muốn của Ngài. Hãy vô hiệu hoá ý muốn các ngươi trước ý chỉ của Ngài, để Ngài sẽ vô hiệu hoá ý muốn của nhiều người khác trước ý muốn của các ngươi”. Chúng ta hãy trở thành thứ bình thích đáng cho ý muốn của Đức Chúa Trời; hãy đặt giá trị của chúng ta trong thứ bình thiêng liêng chớ không phải thứ bình bằng đất của chúng ta.



Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

TREO BẰNG SỢI CHỈ


Treo Bằng Sợi Chỉ
 “Các ngươi phải mang cái tua nầy; khi thấy nó các ngươi sẽ nhớ lại hết thảy điều răn của Đức Giê-hô-va mà làm theo, không theo tư dục của lòng và mắt mình, là điều làm cho các ngươi sa vào sự thông dâm. Như vậy, các ngươi sẽ nhớ lại mà làm theo những điều răn của ta, và làm thánh cho Đức Chúa Trời của các ngươi — Dân số ký 15:39–40

Phần Kinh thánh tuần nầy kết thúc với một mạng lịnh cho dân Israel phải gắn cái tua trên bốn góc áo xống của họ. Vào thời ấy, khi hầu hết nam giới đều mặc án chẽn, mấy cái tua được kết vào bốn góc của áo dài. Phần lớn những chiếc áo sơmi may hôm nay không có bốn góc ở vạt áo, vì vậy thông tục của người Do thái là phải mặc áo lót gọi là tzitzit theo tiếng Hy-bá-lai. Cái áo lót nầy là áo sơmi nhỏ, mỏng, màu trắng có bốn gốc với tua truyền thống đính ở mỗi góc. Nếu bạn quan sát kỹ đàn ông Do thái ngày nay, bạn sẽ thấy cáu tua nầy treo dưới áo sơmi của họ, thường thì ở gần hai đầu gối của họ.

Một câu chuyện xưa của người Do thái Đông Âu thuật lại về người Cossack Nga đã gặp gỡ một người Do thái Đông Âu du lịch qua châu Âu. Người Cossack, họ nổi tiếng là bài Do thái, để ý thấy tua tzitzit của người Do thái  rồi thình lình lên tiếng hỏi: “Cái gì treo tòn teng nơi chân của ông vậy?” Người Do thái xây lại phía người Cossack rồi hỏi lại: “Thế cái gì treo tòn teng gần cái chân của ông vậy?” Người Cossack bèn đáp: “Tất nhiên, đó là thanh kiếm!” Người Do thái đáp trả: “Đây cũng là thanh gươm. Có phải ông muốn đấu chăng?” Người Cossack đồng ý đấu kiếm, và truyền thuyết ghi lại rằng tzitzit của người Do thái Đông Âu kia đánh gãy gươm của người Cossack.

Giờ đây, trong trường hợp câu chuyện nầy có thật đi nữa thì chẳng phải là mục đích đâu. Bài học mà câu chuyện nầy truyền đạt, ấy là sự kết nối của chúng ta với Đức Chúa Trời – là điều mà tzitzit tiêu biểu cho – thì mạnh mẽ và có uy lực hơn bất cứ điều gì khác trên thế gian.

Tôi được nhắc nhớ đến trận đấu nổi tiếng giữa cậu bé David nhỏ thó kia chống lại gã giềnh giàng khỗng lồ Gôliát. Khi Gôliát nom thấy David, hắn không thể tin nổi một cậu thiếu niên trông chẳng có sức lực gì lại dám bước ra đấu địch với hắn. Đối với Gôliát, David dương như không sao làm gãy được gươm của hắn giống như tzitzit đã từng làm. Nhưng có lẽ, khi bạn nhớ lại, David đã không e sợ công bố với Gôliát: Ngươi cầm gươm, giáo, lao mà đến cùng ta; còn ta, ta nhân danh Đức Giê-hô-va vạn binh mà đến, tức là Đức Chúa Trời của đạo binh Y-sơ-ra-ên, mà ngươi đã sỉ nhục. Ngày nay Đức Giê-hô-va sẽ phó ngươi vào tay ta”, và rồi: “quân lính nầy sẽ thấy rằng Đức Giê-hô-va không giải cứu bằng gươm, hoặc bằng giáo (I Samuên 17:45–47). Mục đích của David: Sự gắn bó của ông với Đức Chúa Trời thì có uy lực hơn bất kỳ gươm hay giáo nào.


Ấy chẳng phải là tình cờ mà mấy cái tua tzitzit đã được làm bằng chỉ. Đôi khi, sự kết nối của chúng ta với Đức Chúa Trời đang treo bằng một sợ chỉ. Có lúc đức tin của chúng ta cho biết Ngài sẽ nhìn xem chúng ta qua những lúc gian nan treo trên sợi chỉ mành. Nhưng sứ điệp của tzitzit là phải nắm chặt lấy sợi chỉ đó. Chúng ta hãy giữ lấy mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời thật chặt chẽ, còn Đức Chúa Trời sẽ giúp chúng ta thắng hơn.