Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015

SỐNG THEO MỤC ĐÍCH CỦA MÌNH



Hãy Sống Theo Mục Đích Của Mình
“Ấy, A-rôn và Môi-se nầy, tức là người mà Đức Giê-hô-va đã phán dạy rằng: Hãy tùy theo cơ đội, đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô. Ấy là hai người tâu cùng Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô, đặng đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ đó; ấy là Môi-se và A-rôn nầy — Xuất Êdíptô ký 6:26–27
Truyện tích Hasidic xưa thuật lại câu chuyện nói tới một vị rabi nổi tiếng, ông muốn biết người  nào lân cận mình sẽ được ở trên thiên đàng. Ông đã cầu nguyện khẫn thiết để có được đặc ân biết được có phải là người nầy hay không!?! Sau nhiều lần kiêng ăn và cầu nguyện, vị rabi có chiêm bao một tối kia, ở đó ông được tỏ cho biết người nào lân cận ông sẽ được ở trong thiên đàng. Ấy chẳng phải ai khác hơn gã hàng thịt trong thị trấn! Vị rabi dám chắc rằng chiêm bao của mình là vô nghĩa – lẽ ra thì chẳng phải vậy. Vị rabi là người thánh khiết nhất ở trong thị trấn; còn gã hàng thịt kia là một kẻ dốt nát chuyên bán thịt mà thôi. Tuy nhiên, giấc chiêm bao bản thân nó đã lặp đi lặp lại cho tới chừng vị rabi quyết rằng chuyện ấy là sự thật. Ông đến gặp gã hàng thịt kia và nhận biết anh ta rõ hơn. Ông khám phá ra gã nầy là một người rất tử tế và hiền lành, thực sự là một người lân cận xứng đáng cho cõi đời đời.
Hết thảy chúng ta đều vào trong thế gian với một mục đích và sứ mệnh trong đời sống của chúng ta. Nhưng ấy chẳng phải tầm cỡ của sứ mệnh quyết định sự cao trọng của con người đâu. Thay vì thế, chính tầm cỡ của con người mới quyết định sự cao trọng của sứ mệnh của người (nam hay nữ).
Một số người trong chúng ta được sai đến đây để chu toàn các sứ mệnh to lớn; nhiều người khác được sai đến vì các mục đích nhỏ nhoi hơn. Có người được kêu gọi để trở thành cấp lãnh đạo thuộc linh. Những người khác được kêu gọi để làm thợ quét ống khói. Công việc làm ăn của chúng ta có là gì đi nữa trong thế gian thì không phải là vấn đề. Vấn đề là cách thức chúng ta làm công việc ấy và cách thế chúng ta đối đãi với tha nhân trong tiến trình quyết định sự cao trọng của chúng ta ở trước mắt Đức Chúa Trời.
Trong Xuất Êdíptô ký 6:26–27, chúng ta để ý thấy rằng lúc đầu Đức Chúa Trời nhắc tới “Arôn và Môise”, nhưng khi đề cập đến cặp đôi thì là “Môise và Arôn”Bậc thánh hiền người Do thái dạy rằng chúng ta học biết từ điều nầy thì thấy Môise và Arôn đều tương đương trong sự cao trọng của họ.
Nhưng làm sao được như thế chứ? Như Arôn vốn là cao trọng rồi, chính Môise mới là người đem 10 Điều Răn xuống từ Núi Sinai, Môise là người đã ban cho chúng ta Kinh thánh, và Môise là người đưa dân Israel ra khỏi Aicập. Trong Phục truyền luật lệ ký 34, Kinh thánh cho chúng ta biết rằng Môise là vị tiên tri quan trọng nhất đã từng sống. Làm sao chúng ta nói được Arôn tương đương với Môise chứ?
Câu trả lời là, như chúng ta đã nói, tầm cỡ của sứ mệnh không phải là vấn đề. Cả hai Arôn và Môise đều chu toàn các mục đích đáng trượng của họ ở trên đất, rồi vì lẽ đó, họ tương đương trong sự cao trọng.

Bậc thánh hiền dạy: “Chẳng có gì đáng trượng đối với Đức Chúa Trời hơn một người biết đặt hết lòng, hết linh hồn mình vào việc lo chu toàn sứ mệnh của mình”. Nếu bạn được đặt để ở đây để điều hành Công Ty Fortune 500 hoặc để lo liệu một gia đình thì không phải là vấn đề. Khi bạn đặt tấm lòng và linh hồn mình vào công việc mà bạn được đặt để ở đây để lo làm, không có gì quí báu hơn đối với Đức Chúa Trời.

Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015

LÀ GẬY, ĐỪNG LÀ RẮN



Là Gậy, Đừng Là Rắn
 “Khi nào Pha-ra-ôn truyền cho các ngươi: Hãy làm phép lạ đi, thì ngươi sẽ nói cùng A-rôn rằng: Hãy lấy gậy của anh, liệng trước mặt Pha-ra-ôn, gậy sẽ hóa thành một con rắn — Xuất Êdíptô ký 7:9
Về phép lạ đầu tiên trong nhiều phép lạ của Đức Chúa Trời, Môise được truyền cho phải đến gặp Pharaôn rồi biến cây gậy thành con rắn. Môise đã làm theo y như đã được truyền cho phải làm; Arôn đã ném cây gậy xuống đất và nó biến thành con rắn ngay trước mặt Pharaôn. Nhưng hết thảy chúng ta đều biết rõ chuyện gì đã xảy ra kế đó. Các thuật sĩ của Pharaôn đã làm đúng một việc y như thế! Thực vậy, theo truyền thuyết của người Do thái, từng đứa trẻ 5 tuổi ở Aicập có thể thực hiện y cái “mẹo” đó. Lẽ nào Đức Chúa Trời lại sai Môise với một việc có chút ấn tượng như thế sao?
Bậc thánh hiền Do thái dạy rằng phép lạ không có ý định gây ấn tượng đâu; nó đã được dự trù để gửi đến một sứ điệp.
Hãy xem xét việc sau đây. Trong xứ Aicập, một con rắn, đặc biệt là rắn hổ mang, là biểu tượng của hoàng gia và thần linh. Các Pharaôn đều được dân chúng xem là vua và là thần linh. Đấy là lý do tại sao, khi bạn nhìn xem các hình ảnh mô tả những Pharaôn xưa kia của người Aicập, bạn sẽ thấy rằng toàn bộ phần mũ trang phục của họ đều bao gồm các biểu tượng về rắn và rắn hổ mang. Thường thì một con rắn nhỏ đứng ở đỉnh vương miện tiêu biểu cho rắn thần Uraeus. Hai bên của vương miện gồm toàn đầu của rắn hổ mang. Ngay cả hàm râu nhọn thẳng xuống, chúng ta thấy trên các bức tượng Pharaôn trông giống như phần bụng dưới của con rắn. Đức Chúa Trời không chọn con rắn làm phép lạ đầu tiên của Ngài ở trước mặt Pharaôn giống như một ý thích mới nảy ra đâu. Đây là một sự lựa chọn cố tình và là một sứ điệp rất sâu sắc.
Khi con rắn của Arôn nuốt lấy bầy rắn của Pharaôn, điều nầy trở nên thú vị lắm đây. Sự việc cho thấy giống như thể Đức Chúa Trời đang phán: “Các ngươi nghĩ rằng các ngươi là thần linh, nhưng Ta là Thần Linh duy nhứt. Ta có thể nuốt lấy các ngươi, và một khi các ngươi qua đi, sẽ chẳng có dấu vết nào cho thấy các ngươi đã từng tồn tại”. Mặt khác, Đức Chúa Trời còn mãi cho đến đời đời.
Trong thời của chúng ta, chúng ta cũng có thể “tái hiện” nhiều phép lạ của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có thể cung cấp đồ ăn, chúng ta có thể ra siêu thị và cung cấp đồ ăn. Đức Chúa Trời có thể chữa lành, và chúng ta có thể đi bác sĩ và được chữa lành. Đức Chúa Trời có thể dựng nên sự sáng, và chúng ta cũng có thể đem ánh sáng vào một căn phòng tối tăm chỉ với một động tác: bật công tắc lên. Chúng ta cũng có thể làm được hết mọi sự đó!
Nhưng xin đừng dại dột. Chúng ta không phải là thần linh đâu. Chỉ Đức Chúa Trời mới là Thần Linh. Ngài đã, đang, và luôn luôn sẽ là Thần Linh. Ngài là nguồn của mọi sự chúng ta có thể làm và là mọi sự chúng ta có thể trở thành.

Ở phần cuối của bối cảnh, con rắn của Arôn biến trở lại thành cây gậy. Cũng có một sứ điệp ở đây nữa. Chúng ta không phải là Đức Chúa Trời; chúng ta chỉ là cây gậy – một công cụ trong tay Ngài. Đối với người nào ham muốn danh tiếng, quyền thế, và sự giàu có, sứ điệp nầy sẽ đau nhức như vết cắn có nọc rắn. Còn đối với những ai khao khát ý nghĩa, sự bình an, và sự nên thánh, đây là một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ trấn tỉnh con rắn ở trong chúng ta và giải phóng linh hồn chúng ta. 

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015

HÃY RÓT ĐẦY TÌNH YÊU THƯƠNG



Hãy Rót Đầy Tình Yêu Thương
Trong ngày đó, người chúc phước cho hai đứa con trai nầy mà nói rằng: Ấy vì ngươi mà dân Y-sơ-ra-ên sẽ chúc phước nhau rằng: Cầu xin Đức Chúa Trời làm cho ngươi được giống như Ep-ra-im và Ma-na-se. Vậy, Gia-cốp đặt Ep-ra-im trước Ma-na-se — Sáng thế ký 48:20
Trong phần đọc Kinh thánh tuần nầy, lịch sử gần như là tự lặp lại. Nó đến rất gần, và nếu chúng ta không biết rõ hơn, có lẽ chúng ta sẽ tiên đoán một hậu quả khác cho câu chuyện nầy. Nhưng thay vì thế, một khuôn mẫu đã bị phá vỡ — một khuôn mẫu ganh tỵ, giận dữ, và anh em tranh cạnh nhau.
Trước tiên là Ysác và Íchmaên. Mặc dù Ysác trẻ hơn, ông đã nhận lãnh sự chúc phước của Ápraham và tiếp tục di sản của ông ấy. Kế đó có Giacốp và Êsau. Tương tự, Giacốp, là em, đã nhận lãnh nhiều ơn phước quan trọng. Thế rồi, có Giôsép cùng các anh mình – một câu chuyện nói tới sự ghen tương và tranh cạnh dẫn tới sự gần chết mất của Giôsép và việc ông bị bán đi làm nô lệ.
Tuần nầy, chúng ta đọc về thế hệ kế tiếp. Épraim và Manase là hai con trai của Giôsép. Khi đời sống của Giacốp đi đến mức cuối, Giôsép bèn đưa chúng đến để được chúc phước cho. Giôsép đã giúp cha mình đặt tay ông lên đầu hai đứa trẻ. Bàn tay phải trên đứa lớn, là Manase, và bàn tay trái trên đứa nhỏ, là Épraim. Bàn tay phải, ý nói một lời chúc phước mạnh mẽ hơn, thích ứng với người con lớn. Song Giacốp cố ý chuyển đổi hai tay của ông. Ông giải thích với Giôsép rằng đứa nhỏ sẽ là trọng hơn đứa lớn, và vì vậy ông ban cho Épraim lời chúc phước lớn lao hơn.
Chúng ta sẽ mong điều nầy dẫn tới một cuộc cạnh tranh khác giữa hai anh em. Tối thiểu là chúng ta sẽ mong Manase sẽ bị tàn phá, duy về mặt nội bộ. Tuy nhiên, bậc thánh hiền Do thái dạy cho chúng ta biết rằng Manase không có chút thù địch gì đối với em của mình. Không một lượng ghen tỵ nào – trong lúc chúc phước, cũng như mãi về sau. Đây là lý do tại sao Giacốp đã chúc phước cho hai đứa trẻ bằng cách tuyên bố rằng hết thảy dân Israel sẽ chúc phước cho con cái của họ bằng tên của chúng. Thậm chí hôm nay, vào từng ngày sa-bát, chúng ta chúc phước cho con trai chúng ta sẽ được giống như Épraim và Manase – không có sự tranh cạnh và với tình cảm anh em hoàn toàn.
Tuy nhiên, chúng ta phải thắc mắc, làm thế nào Manase có thể giữ được tình cảm anh em đó trong chỗ thứ nhứt? Chúng ta phải hiểu, và thậm chí mong mỏi, rằng ông ấy đã học được từ lịch sử gia đình chớ không hành động theo cảm xúc tổn thương và ganh tỵ của mình. Tuy nhiên, Manase là con người, với tình cảm và các khuynh hướng tự nhiên. Làm sao mà ông không cảm thấy một chút ganh tỵ chứ?
Các rabi giải thích với một cách suy nghĩ. Hãy hình dung một cái ly không xem. Hãy rót nước vào phân nửa ly đi, và có nhiều chỗ để thêm vào bất cứ thứ chi khác – ngay cả chất độc. Tuy nhiên, hãy rót đầy một cái ly lên tới miệng, và chẳng còn có chỗ nào dành cho bất cứ thứ chi khác nữa.

Manase vốn đầy dẫy tình cảm dành cho Đức Chúa Trời đến nỗi chẳng có chỗ nào dành cho thứ chi khác. Ông vốn đầy dẫy thái độ biết ơn đến nỗi chẳng có chỗ cho sự ghen tuông. Chúng ta cần phải sống cùng một cách như thế. Hãy đong đầy với tình cảm của Đức Chúa Trời, và chẳng có một chỗ nào dành cho bất cứ thứ chi khác nữa.

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

CẤT BỎ NHỮNG TRỞ NGẠI


Cất Bỏ Những Trở Ngại
Vậy, nầy là cớ vì sao mà tội Gia-cốp sẽ được tha, và nầy là quả của sự trừ bỏ tội nó đi: nó sẽ làm cho hết thảy đá của bàn thờ ra như đá vôi bể nát; các hình tượng và các trụ mặt trời sẽ không dựng lên nữaÊsai 27:9

Tôi nhớ một Hanukkah khi tôi cho cháu gái tôi chiếc điện thoại đồ chơi. Cái đồ chơi đó đòi hỏi phải có pin, và khi đứa cháu nhỏ nầy háo hức mở gói đồ chơi ấy ra, ngay lập tức nó tìm cách chơi với món quà mới của nó. Nhưng nó không hoạt động. Với sự thất vọng, nó trao cho tôi cái đồ chơi để tôi có thể chỉnh sửa lại. Trước khi hai hàng nước mắt có thể chực chảy ra, tôi mở hộc pin ra rồi đặt pin vào đó. Thình lình cái đồ chơi điện thoại kia trở nên sống động hẳn ra. Cháu gái tôi liền phấn khởi ngay. Chỉ có một chút đấy thôi – chỉ một chút xíu can thiệp nho nhỏ – đã khiến cho cái đồ chơi kia bước vào hoạt động liền tay. Chỉ một chút việc nhỏ đó mà cả hệ thống đều hoạt động!

Đến với phần đọc Kinh thánh tuần nầy, Môise đã gặp gỡ Đức Chúa Trời ở bụi gai cháy. Việc đầu tiên Đức Chúa Trời đã dặn dò ông là việc gì chứ? Hãy cổi giầy ngươi ra, vì chỗ ngươi đang đứng là đất thánh (Xuất Êdíptô ký 3:5). Có nhiều cách để hiểu mạng lịnh nầy, và ở đây là một cách trong số đó: Đức Chúa Trời đang bảo Môise — và hết thảy chúng ta — phải cất bỏ đi bất cứ điều chi làm cho chúng ta phân cách đối với Ngài. Chúng ta đang đứng trên đất thánh – mảnh đất đượm đầy phép lạ và sự thánh khiết. Việc duy nhứt cần phải thực hiện để kích hoạt đầy đủ sự thánh khiết trong đời sống chúng ta là bỏ đi bất cứ thứ chi trì kéo chúng ta lại xa cách đối với Đức Chúa Trời.

Trong phần đọc Kinh thánh, chúng ta đến với một sứ điệp tương tự vậy. Êsai nói: “Và nầy là cớ vì sao mà tội Giacốp sẽ được tha . . . khi nó sẽ làm cho hết thảy đá của bàn thờ ra như đá vô bể nát; các hình tượng và các trụ mặt trời sẽ không dựng lên nữa”. Nói thẳng ra, Êsai đang bảo hãy từ bỏ bất cứ điều chi đứng giữa bạn và Đức Chúa Trời.

Hết thảy chúng ta đều có những ngăn trở riêng. Hết thảy chúng ta đều ra đời với những thiếu sót. Công việc của chúng ta là dời đi những ngăn trở làm phân cách chúng ta đối với Đức Chúa Trời. Đối với một số người trong chúng ta, có thể đó là một khuynh hướng giận dữ. Còn đối với người khác, có thể đó là một chứng nghiện ngập gây tổn hại. Đối với người khác nữa, có thể đó là một tín điều giả dối hay một nổi sợ còn sót lại làm nao lòng chúng ta. Còn đối với nhiều người khác, có thể đó là một sự kèm cặp đối với giàu có của cải, danh tiếng, quyền thế, hay bất kỳ trở ngại nào khác trong sự chúng ta đồng đi với Đức Chúa Trời. Chúng ta cần phải cất bỏ mọi sự nầy ra khỏi chúng ta và ra khỏi đời sống chúng ta. Chúng ta cần phải gạt bỏ chúng và hủy diệt chúng đi.

Điều chi đang giữ bạn xa khỏi Đức Chúa Trời vậy? Điều chi giữ bạn lại không sống hoàn hảo chứ? Hãy cất bỏ những ngăn trở và phá vở những cái hàng rào, để giống như Môise, bạn sẽ đến gần Đức Chúa Trời hơn và xứng đáng với đặc ân làm công việc của Ngài trên vùng đất thánh của đời sống chúng ta. Hãy dẹp bỏ hết mọi trở ngại đứng giữa bạn và Đức Chúa Trời, và rồi hãy kích hoạt cuộc sống tốt nhất của bạn.

BÍ QUYẾT CỦA ISRAEL



Bí Quyết Của Israel
Vậy, người Ê-díp-tô bèn đặt các kẻ đầu xâu để bắt dân Y-sơ-ra-ên làm xâu khó nhọc; họ xây thành Phi-thom và Ram-se dùng làm kho tàng cho Pha-ra-ôn. Nhưng người Ê-díp-tô càng bắt làm khó nhọc chừng nào, dân Y-sơ-ra-ên càng thêm nhiều lên, và tràn ra chừng nấy. Người Ê-díp-tô bèn đem lòng ghen ghét dân Y-sơ-ra-ên” — Xuất Êdíptô ký 1:11–12
Vào buổi sáng mùa thu mát mẻ trong tháng 11 vừa qua, trong vùng phụ cận im ắng của thành Jerusalem, thảm hoạ ụp đến khi hai tên khủng bố, được trang bị bằng búa, dao, và một khẩu súng, đã xông vào một nhà hội. Nhiều người nhóm lại ở đây để dâng lời cầu nguyện ban sáng, họ đang chìm vào sự cầu nguyện khi tiếng súng đầu tiên vang lên. Sau 7 phút chiến đấu, 4 rabi đã bị giết và một cảnh sát người Do thái đã bị thương trầm trọng, sau đó đã gục chết vì các vết thương của mình. Trái tim của cả nước bị xé toang ra và nổi đau ấy đã được bạn bè trên khắp thế giới cảm nhận được.
Không hơn hai ngày sau, một bức thư đã được đánh đi khắp trên mạng internet. Bức thư ấy đến từ bốn bà goá phụ mới cùng 26 đứa trẻ mồ côi cha. Bức thư nhắc đến xứ sở Israel với một lời thỉnh cầu: từ chỗ tôn trọng những người chồng người cha đã bị giết, cả xứ cam kết yêu thương nhau ngày càng hơn. Đây là một lời kêu gọi phải kềm chế đối với những lời đồn đãi hay bất kỳ lời lẽ nào gây tổn thương. Đây là lời kêu gọi phải hiệp một, yêu thương, và đoàn kết. Đây là một lời phát biểu cho rằng tai vạ nầy sẽ không đem lại điều tốt nhứt cho chúng ta; thay vì thế, nó sẽ đưa điều tốt nhứt đang có ra khỏi chúng ta.
Đây là bí quyết của dân tộc Do thái. Bị bắt bớ nhiều hơn bất kỳ một dân tộc nào khác trên thế giới, chúng tôi chỉ trở nên tốt hơn, mạnh hơn và trung tín hơn mà thôi. Họ càng áp bức chúng tôi, họ càng tinh luyện chúng tôi và xác định rõ chúng tôi.
Phản ứng nầy có gốc rễ của nó trong phần đọc Kinh thánh hôm nay. Tuần lễ nầy, chúng ta bắt đầu sách Xuất Êdíptô ký. Chỉ là một vài câu, chúng ta học được rằng sự sống đã trở nên khó khăn cho con cái Israel. Lúc đầu, họ được mời xuống Aicập giống như hạng thực khách hoàng gia, giờ đây họ là đối tượng của sự chế giễu và thù nghịch. Sự bắt bớ Israel mới bắt đầu: Vậy, người Ê-díp-tô bèn đặt các kẻ đầu xâu để bắt dân Y-sơ-ra-ên làm xâu khó nhọc;...”. Nhưng: “...người Ê-díp-tô càng bắt làm khó nhọc chừng nào, dân Y-sơ-ra-ên càng thêm nhiều lên, và tràn ra chừng nấy”.
Việc đã xảy ra thể nào, thì cũng sẽ xảy ra y như thế. Israel sẽ tiếp tục mạnh mẽ ở ngay bề mặt của sự bắt bớ.
Bạn có nhớ danh Israel có được là từ đâu không? Giacốp đã được đặt cho danh nầy bởi thiên sứ của Đức Chúa Trời, Ngài phán: “Tên ngươi sẽ chẳng là Giacốp nữa, nhưng tên là Israel, vì ngươi đã có vật lộn với Đức Chúa Trời và người ta; ngươi đều được thắng” (Sáng thế ký 32:28). Là “Israel” có nghĩa là phải nếm trải nổi vất vả và trở nên tốt hơn, mạnh mẽ hơn ở đầu kia.

Quí bạn ơi, trong từng cơn thách thức, chúng ta có thể chọn trở nên tốt hơn hay cay đắng hơn. Chúng ta có thể để cho các tai vạ trở thành cứu cánh của chúng ta, hoặc mở lòng mình ra trước những khởi đầu mới. Chúng ta đã được bốn bà goá phụ Do thái truyền cảm hứng cho. Ở bề mặt của bất kỳ thách thức nào, chúng ta hãy chỗi dậy với đức tin và sự bền đỗ.

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2015

ÁNH SÁNG CỦA HY VỌNG

Ánh Sáng Của Hy Vọng
Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi: Tôi sẽ sợ ai? Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi: Tôi sẽ hãi hùng ai? — Thi thiên 27:1
Ai cũng biết đến Hanukkah vì phép lạ đã xảy ra khi giá trị của dầu trong một đêm giữ cho Đền Thờ thắp sáng menorah lên, trong đêm đó cùng thêm 7 đêm khác nữa. Tuy nhiên, nếu đấy là trường hợp, thế thì chúng ta không kỷ niệm Hanukkah chỉ trong 7 đêm sao? Thật là tự nhiên, vì dầu kéo dài trong đêm đầu tiên; không có gì lạ lùng về việc ấy. Chỉ có 7 đêm sau đó mới vượt khỏi sự tự nhiên đấy thôi.
Bậc thánh hiền Do thái giải thích rằng phép lạ của đêm đầu tiên Hanukkah, nghĩa là họ đã tìm được đủ dầu. Khi người Do thái tái chiếm Đền Thờ rồi bước vào trong đó lần đầu tiên, đây là một cảnh tượng thật nát lòng. Ngôi NhàYêu Dấu của Đức Chúa Trời đã hoàn toàn ở trong đống đổ nát; nơi thánh, bị làm cho ô uế. Người Do thái đã tìm kiếm dầu để thắp sáng menorah, để đem chút ánh sáng chiếu vào bóng tối tăm. Nhưng từng cái bình mà họ tìm gặp đã bị mở ra hết và rất ô uế. Sau cùng, có cái bình nhỏ họ tìm gặp còn nguyên con dấu của Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm, cho thấy rằng dầu còn tinh sạch. Phải mất đến tám ngày mới tinh chế được dầu sạch, nhưng trong đêm đó, người Do thái vui mừng nơi phép lạ ít nhất họ có thể có ánh sáng cho một ngày và một đêm. Đấy là phép lạ của đêm thứ nhứt.
Bây giờ, như chúng ta đang nhìn biết, một đêm đã đổi thành tám đêm. Đến lúc ngọn lửa sắp tắt đi, dầu mới đã sẵn sàng và ngọn lửa mới được thắp sáng lên. Từ thời điểm bình dầu nhỏ kia được tìm thấy, người Do thái không hề phải nếm trải một ngày mà không có ánh sáng nữa.
Truyện tích Hanukkah là câu chuyện nói tới hy vọng và phép lạ. Trong bóng tối tăm, cần phải có sự sáng. Nhiều hơn cả mong đợi, bình dầu thanh sạch kia đã được tìm thấy. Quả là rất khó, nhưng lạ lùng thay, dầu đã kéo dài trong tám đêm. Hanukkah là ngày lễ duy nhứt của người Do thái tập trung lại trong ban đêm – thời điểm của sự tối tăm. Chúng ta chỉ được phép thắp sáng menorah của chúng ta một lần khi trời còn tối ở bên ngoài.
Thêm nữa, Hanukkah được kỷ niệm và là thời điểm tối tăm nhất trong năm – khi ban ngày thì ngắn nhất và ban đêm thì dài nhất. Sở dĩ như vậy là vì Hanukkah nói tới các thời điểm của sự tăm tối – thời điểm của thách thức và khó khăn. Trong sự tối tăm ấy, chúng ta thắp sáng các ngọn đèn của mình và đem lại ánh sáng. Chúng ta đem lại một sứ điệp hy vọng và khích lệ. Bất luận mọi việc tối tăm đến ngần nào, chúng ta vẫn có thể tìm gặp ngọn đèn. Vô luận mọi việc có khó khăn ngần nào, Đức Chúa Trời có thể làm ra những phép lạ. “Đức Giêhôva là sự sáng của tôi”.
Hanukkah nầy, đang thắp lên một ngọn đèn với chúng ta. Ngọn lửa thì nhỏ song ánh sáng thì lớn lao. Giống như một ngọn đèn có thể thắp sáng cả phòng tối tăm lên. Cũng một thể ấy, một chút đức tin thôi cũng có thể thắp sáng những giờ tăm tối nhất của chúng ta. Đức Chúa Trời của chúng ta là Đức Chúa Trời của phép lạ – không hề từ bỏ hy vọng!


Thứ Năm, 8 tháng 1, 2015

MỞ MIỆNG RA KÊU VAN


Mở Miệng Ra Kêu Van
Sau cách lâu, vua xứ Ê-díp-tô băng; dân Y-sơ-ra-ên than thở kêu van vì phải phục dịch khổ sở; tiếng kêu van lên thấu Đức Chúa Trời. Ngài nghe tiếng than thở chúng, nhớ đến sự giao ước mình kết lập cùng Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp. Đức Chúa Trời đoái lại dân Y-sơ-ra-ên, nhận biết cảnh ngộ của chúng Xuất Êdíptô ký 2:23–25
Ở phần cuối của chương hai sách Xuất Êdíptô ký, chúng ta đọc thấy rằng con cái Israel đã kêu van với Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện vì cớ tình trạng nô lệ đầy cay đắng của họ. Kế đó, chúng ta học biết rằng Đức Chúa Trời đã dũ nghe những lời cầu xin của họ và Ngài nhớ lại lời hứa của Ngài đối cùng các tổ phụ họ. Sau cùng, chương nầy kết thúc bằng cách nói cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời đã đoái lại dân Israel.
Bây giờ, đây là nan đề. Đức Chúa Trời đã căn dặn Ápraham rằng dòng dõi của ông sẽ đi xuống xứ Aicập rồi bị người Aicập áp bức. Ngài cũng hứa với Ápraham rằng dòng dõi của ông chắc chắn sẽ được buông tha và thịnh vượng. Vì thế, thắc mắc là: Tại sao con cái Israel cần phải kêu van với Đức Chúa Trời để đánh thức lòng thương xót của Đức Chúa Trời rồi mới được cứu chứ? Điều nầy đã được hứa hẹn và nói trước rồi. Thêm nữa, khi câu Kinh thánh cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời “nhớ lại” lời hứa của Ngài đối với các tổ phụ, chúng ta cần phải giả sử tin rằng Đức Chúa Trời không cứ cách nào đó đã quên phứt lời hứa của Ngài? Có phải Đức Chúa Trời cần chúng ta nhắc cho Ngài nhớ lại chuyến linh trình của chúng ta để rồi Ngài sẽ lưu ý đến chúng ta chăng?
Tôi có nghe nói đến tình trạng nầy được giải thích với phần phân tích sau đây. Hãy tưởng tượng một ngôi trường kia được dành cho một sự trợ cấp rất lớn. Vị hiệu trưởng rất phấn khởi về tất cả chương trình mới mà ông có thể thực hiện cùng mọi phương thức mà ông có thể làm để đưa ngôi trường đến chỗ tốt hơn cho các sinh viên. Nhiều tháng trời trôi qua và số tiền đã được hứa kia chưa thấy tới. Thêm nhiều tháng nữa trôi qua, và vì hiệu trưởng rất là lo. Ông đến gặp vị giám đốc kia, là người đã hứa trao số tiền đó, rồi yêu cầu ông ta cho biết số tiền hiện đang ở đâu. Vị giám đốc ấy nhắc cho viên hiệu trưởng nhớ rằng ông ta đã quên làm một điều để giúp cho số tiền kia sẽ đến với ngôi trường. Vị giám đốc giải thích: “Ông phải mở một tài khoản để chúng tôi chuyển số tiền ấy vào chứ!” Không có tài khoản ngân hàng, chẳng có cách nào để chuyển ngân sách được.
Quí bạn ơi, Đức Chúa Trời có đủ loại phước hạnh để cung ứng cho chúng ta và hứa phải chu toàn. Nhưng Ngài không thể làm vậy nếu chúng ta không “mở một tài khoản ngân hàng”. Nói như thế có nghĩa là chúng ta phải mở miệng mình ra trong sự cầu nguyện. Cầu nguyện là chiếc xe tải qua đó chúng ta chuyển tải ơn phước của Đức Chúa Trời vào trong thế gian.

Ấy chẳng phải là Đức Chúa Trời đã quên phứt Israel hay các lời hứa của Ngài dành cho họ đâu; họ chỉ cần kêu van cho họ thôi. Không lâu sau khi chúng ta mở ống dẫn cầu nguyện ra, mọi ơn phước sẽ bắt đầu tuôn tràn vào. Tương tự, chúng ta cần phải mở miệng mình ra trong sự cầu nguyện để có được mọi nhu cần của mình. Đức Chúa Trời đang sẵn sàng ban chúng ra; chúng ta cần phải sẵn sàng để đón nhận chúng.