Thứ Tư, 14 tháng 11, 2018

KHÔNG CÓ CHI HẾT MÀ CHỈ CÓ ĐỨC CHÚA TRỜI


Không Có Chi Hết
Mà Chỉ Có Đức Chúa Trời

Vậy, các người ấy thuật cho Môi-se rằng: Chúng tôi đi đến xứ mà người đã sai chúng tôi đi; ấy quả thật một xứ đượm sữa và mật, nầy hoa quả xứ đó đây. Mà, dân sự ở trong xứ nầy vốn mạnh dạn, thành trì thật vững vàng và rất lớn; chúng tôi cũng có thấy con cái của A-nác ở đó  — Dân số ký 13:27–28.

Maimonides, một vị ra-bi lỗi lạc thời Trung cổ, giải thích rằng báo cáo của các thám tử được thảo luận trong mấy câu này đã sai với chỉ một từ: "mà".

Sau khi do thám xứ Ca-na-an, 12 thám tử trở về cùng Môi-se với báo cáo sau đây: : Chúng tôi đi đến xứ mà người đã sai chúng tôi đi; ấy quả thật một xứ đượm sữa và mật, nầy hoa quả xứ đó đây. Mà, dân sự ở trong xứ nầy vốn mạnh dạn, thành trì thật vững vàng và rất lớn”. Bỏ qua một từ đó, và chúng ta còn lại với một câu chuyện trung thực nói tới những gì các thám tử đã nhìn thấy, đó là mục đích sứ mệnh của họ. Tuy nhiên, một từ đó đã biến đổi lời lẽ khách quan của họ thành một câu nói chủ quan, một từ dẫn đến buồn rầu, nhầm lẫn và mất đức tin.

Thú vị thay, từ ngữ Hy-bá-lai được sử dụng trong câu có ý nói là “mà” là chữ efes, cũng có nghĩa là zero “số không”. Bậc thánh hiền Do Thái giải thích rằng sức mạnh của chữ “mà” nằm ở đây. Nó đổi mọi sự tích cực trở thành không có chi hết. Mọi sự tốt lành thành ra con số zero, không có gì hết.

Kỳ thực, Đất Hứa tuôn chảy với sữa, mật ong, và sự dư dật không có ý nghĩa gì đối với con cái của Israel sau khi các thám tử ám chỉ rằng việc chinh phục xứ sẽ rất nguy hiểm và khó thể xảy ra. Một chữ nhỏ bé ấy đã làm thay đổi toàn bộ giá trị của lời nói kia, và kết quả là, đường dẫn số phận của dân Israel.

Không có nhiều việc đã thay đổi khi nói đến sức mạnh của một từ trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta cũng phạm chính lỗi lầm như thế. Khi chúng ta nói ra những câu như: “Tôi có việc làm mới, mà việc ấy rất khó”, chúng ta đánh giá thấp việc làm mới đó cùng thái độ biết ơn của chúng ta khi có một việc làm. Khi chúng ta nói: “Con trai tôi đạt điểm cao đấy, mà nó không giỏi ở các bộ môn thể thao”, chúng ta làm giảm giá trị của người thân chúng ta, chuyển sự tập trung của chúng ta vào nhược điểm của chúng thay vì điểm mạnh của chúng. Một chữ nhỏ bé ấy có thể đảo ngược nhiều ơn phước của chúng ta là vậy đấy.

Bậc thánh hiền dạy rằng Giô-suê, một trong hai thám tử không dự phần vào báo cáo tồi về xứ Ca-na-an, đã đưa ra một lời cầu nguyện 28 năm khi sau cùng dẫn dắt dân sự vào trong xứ. Lời cầu nguyện này, vẫn còn được đọc mỗi ngày, chứa cụm từ efes zulato, có nghĩa là "không có gì hết mà chỉ có Ngài (Đức Chúa Trời)". Không phải là tình cờ mà Giô-suê đã sử dụng cùng từ ngữ khiến các bạn đồng sự của ông gặp nhiều rắc rối. Ông dạy cho chúng ta biết rằng có một lần khi chúng ta có thể dùng chữ “mà” đó — khi chúng ta nói “không có gì khác mà chỉ có Đức Chúa Trời”.

Hãy tìm cách đưa cụm từ này vào trong lời cầu nguyện của bạn. Nó làm biến đổi bất cứ thứ tiêu cực nào trở thành tích cực ngay – “không có gì khác mà chỉ có Đức Chúa Trời”, và thế là mọi sự đều khả thi.


Thứ Ba, 13 tháng 11, 2018

CHẲNG CÓ YÊU THƯƠNG NÀO LỚN HƠN



Chẳng Có Yêu Thương Nào lớn

vì nếu ngươi làm thinh trong lúc nầy đây, dân Giu-đa hẳn sẽ được tiếp trợ và giải cứu bởi cách khác, còn ngươi và nhà cha ngươi đều sẽ bị hư mất; song nào ai biết rằng chẳng phải vì cớ cơ hội hiện lúc nầy mà ngươi được vị hoàng hậu sao? — Ê-xơ-tê 4:14

Câu chuyện nói tới hoàng hậu Ê-xơ-tê là một trong những minh hoạ khuynh đảo và đẹp đẽ nhất chỉ ra lòng can đảm và sự sẵn lòng chống lại điều ác trong Kinh thánh. Có lẽ bạn rất quen thuộc với câu chuyện. Sau khi phát hiện ra âm mưu giết hết thảy dân Do Thái ở trong xứ, Cậu Mạc-đô-chê của nàng đã nài xin Ê-xơ-tê can thiệp vì ích cho dân Do Thái trước mặt chồng của nàng, là Vua Xẹt-xe. Ê-xơ-tê bị đối mặt với một sự lựa chọn khó khăn.

Nếu nàng từ chối không nói một điều gì, dân Do Thái chắc chắn sẽ bị hư mất. Tuy nhiên, nếu nàng lên tiếng, nàng phải liều mạng, một khi việc bước vào sự hiện diện của nhà vua mà không được vời ắt sẽ có nghĩa là chết chắc. Ai có thể quên được lời lẽ được thần cảm của Ê-xơ-tê, khi nàng đưa ra quyết định:như vậy, tôi sẽ vào cùng vua, là việc trái luật pháp; nếu tôi phải chết thì tôi chết (câu 16).

Cả hai: Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê đều nhận ra rằng họ đã bị đặt vào một vị trí độc nhất để cứu dân tộc Do Thái. Họ có thể tránh việc ấy. Họ có thể quyết định tự cứu lấy thân mình. Nhưng họ nhìn thấy họ có cơ hội tạo nên một sự khác biệt, và họ nắm bắt khoảnh khắc và đã hành động.

Vào một thời điểm khác trong lịch sử khi dân Do Thái một lần nữa phải đối mặt với sự hủy diệt, có những cá nhân, những nhóm, và thậm chí cả một ngôi làng đã nhận ra rằng họ có cơ hội tạo nên một sự khác biệt — và họ nắm lấy khoảnh khắc và đã hành động. Chúng ta gọi những linh hồn dũng cảm này là “dân Ngoại công bình”, họ không phải là người Do thái, họ đã liều mạng sống họ để cứu người Do Thái trong thời kỳ diệt chủng.

Những người nam và nữ này, nhiều người trong số họ là những Cơ đốc nhân, đã giải cứu dân Do Thái bằng cách hiến cho họ một nơi để ẩn náu, cung cấp cho họ với giấy tờ và danh tánh giả, lén lút và tài trợ cho dân Do Thái trốn thoát và giải cứu các trẻ nhỏ. Và họ thường trả giá bằng mạng sống cho thái độ anh hào của họ.

Nhưng nhiều người trong số này khiêm tốn phủ nhận rằng họ không hành động theo kiểu anh hùng. Người dân làng Le Chambon-sur-Lignon, một làng Tin Lành ở miền nam nước Pháp, đã cung ứng một bến cảng cho người Do Thái ẩn náu trốn tránh quân Phát-xít. Dưới quyền lãnh đạo của Mục sư André Trocmé, và vợ ông, Magda, người dân làng Le Chambon đã hành động dựa trên niềm tin của họ giúp đỡ "người lân cận" đang có cần là bổn phận của họ.
Người dân làng Chambonais nói: “Mọi thứ phải được thực hiện, và chúng tôi đã có mặt ở đó để giúp đỡ họ. Giúp đỡ cho dân tộc này là việc tự nhiên nhất trên thế gian”.
Câu chuyện của họ, và vô số các câu chuyện khác nói tới những người dám bước lên phía trước, đưa ra sự khẳng định mạnh mẽ về bổn phận bắt buộc theo Kinh Thánh phải chỗi dậy vì anh em của họ. Thật vậy, giống như Chúa Jêsus đã dạy: Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình (Giăng 15:13).

Có thể chúng ta không bao giờ được yêu cầu phải đặt mạng sống của mình theo cách mà Ê-xơ-tê, hoặc dân Ngoại công bình, đã làm, nhưng chúng ta có thể đưa ra cam kết chống lại sự bất công, bài Do Thái, và thành kiến ​​trong các cộng đồng của chúng ta. Tôi nguyện rằng chúng ta sẽ có cái nhìn sâu sắc những cơ hội mà chúng ta có thể tạo ra một sự khác biệt và can đảm nắm bắt khoảnh khắc và hành động.


Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

DÂN TA



Dân Ta

Trong dân ta có kẻ nghèo nàn ở cùng ngươi, nếu ngươi cho người mượn tiền, chớ xử với họ như người cho vay, và cũng chẳng nên bắt họ chịu lời — Xuất Ê-díp-tô ký 22:25.

Ở giữa nhiều luật lệ được nhắc tới trong Xuất Ê-díp-tô ký chương 22 là các luật lệ liên quan đến cách chúng ta đối xử với người khác, gồm có kẻ nghèo và người thiếu thốn. Đang khi ở nhiều xã hội, những kẻ sống trong các tầng lớp xã hội thấp nhất chẳng ai biết đến hoặc bị xem khinh, Kinh Thánh liên tục truyền cho chúng ta phải quan tâm những người đang có cần với sự tôn trọng. Chúng ta được truyền cho phải xem họ chẳng khác gì hơn bản thân chúng ta, và có lẽ còn hơn thế nữa.

Chỉ cần nhìn vào những gì Đức Chúa Trời đã phán: Trong dân ta có kẻ nghèo nàn ở cùng ngươi, nếu ngươi cho người mượn tiền…”. Bậc thánh hiền Do Thái chỉ ra rằng khi Đức Chúa Trời phán về những kẻ đang có cần, Ngài đề cập đến họ là “dân Ta”. Như Abraham Lincoln đã từng nói: “Chúa yêu thương kẻ nghèo vì Ngài đã làm rất nhiều việc về họ”. Thật vậy, Đức Chúa Trời vốn có một tình cảm đặc biệt dành cho những kẻ đang có cần.

Shlomo Carlebach, một vị ra-bi lỗi lạc nổi tiếng vào thập niên 60 và 70, người ta biết đến ông vì tình yêu vô biên của ông dành cho mọi người. Nhưng những người đứng đầu danh sách của ông đều là những kẻ đang có cần. Có hàng trăm câu chuyện thuật lại thể nào Ra-bi Carlebach ra ngoài chào đón và giúp đỡ những kẻ sống trên đường phố xin bố thí. Ông cũng có cách giải quyết rất đặc biệt. Ông sẽ nói: “anh em thánh” hay “chị em thánh” khi trò chuyện với họ và gọi họ là “những kẻ ăn xin thánh” khi nói về họ. Bởi vì đấy là hạng người mà Ra-bi Carlebach tin rằng họ là –tạo vật thánh ở đây để giúp chúng ta nhiều như chúng ta ở đây để giúp cho họ vậy.

Thực vậy, bậc thánh hiền dạy: “Người giàu bố thí cho kẻ nghèo nhiều hơn kẻ nghèo bố thí cho người giàu”. Nói như vầy thì có nghĩa gì chứ? Kẻ nghèo bố thí thứ chi cho người có mọi thứ chứ?

Một người giàu có thể có đủ thứ thuộc thể và vật chất, nhưng có nhiều thứ cần phải có trong lãnh vực thuộc linh. Kẻ nghèo giúp người giàu bằng cách cung ứng cho họ cơ hội để phục vụ Chúa và nhận được các phần thưởng lớn lao trên trời. Như đã nói trong sách Châm ngôn: Người nào có mắt từ thiện sẽ được phước; Vì người ban bánh mình cho kẻ nghèo khó (22:9).

Vì vậy, lần tới khi có ai đó xin bạn giúp đỡ, hoặc bạn phát hiện ra ai đó đang có cần, hãy nhớ rằng họ đại diện cho những linh hồn quý báu, thánh khiết. Đức Chúa Trời gọi họ là “dân ta”. Nếu họ là dân sự của Ngài, chắc chắn, họ cũng sẽ là “dân sự của chúng ta” nữa, và chúng ta nên đối xử với họ bằng phẩm giá, tôn trọng, thương xót và yêu thương.