Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

NGUYỆN Ý CHÚA ĐƯỢC NÊN



Nguyện Ý Chúa Được Nên

Giô-suê, con trai của Nun, từ Si-tim mật sai hai người do thám mà rằng: Hãy đi do thám xứ, nhất là Giê-ri-cô. Vậy, hai người ấy đi đến nhà của một kỵ nữ tên là Ra-háp, và ngụ tại đó — Giô-suê 2:1

Một câu chuyện kể về Ra-bi Joshua, là nhân vật cực kỳ khôn khéo nhưng chẳng có gì hấp dẫn cả. Một ngày kia, vị ra-bi Do Thái gặp gỡ con gái của hoàng đế. Nàng ta hỏi cách thẳng thừng: “Sao Đức Chúa Trời lại đặt nhiều sự khôn ngoan như thế vào một cái bình tệ hại dường ấy?” Thay vì nhắm vào lời lẽ nhận xét của công chúa, Ra-bi Joshua hỏi lại: “Cha của cô giữ rượu ngon bằng cách nào vậy?” Công chúa đáp: “Trong thứ bình bằng đất nung”.

Thế rồi, vị ra-bi hỏi: “Lẽ nào chứa rượu ngon trong loại bình xinh đẹp há chẳng xứng đáng sao ta?” Công chúa đồng ý và đem chuyển hết rượu ngon của cha cô vào loại bình bằng vàng và bạc. Không lâu sau đó, tất cả rượu đã bị chua đi. Khi công chúa gặp gỡ vị ra-bi một lần nữa, nàng tỏ cho ông biết những việc đã xảy ra. Đổi lại, Ra-bi Joshua giải thích bài học mà ông muốn công chúa phải tiếp thu: Giống như rượu ngon được giữ tốt nhất trong loại bình chẳng có gì là hấp dẫn hết, thì sự khôn ngoan cũng một thể ấy.

Trong phần đọc Kinh Thánh tuần này [Dân số ký 13:1 – 15:41; Giô-suê 2:1-24], chúng ta học được cách các thám tử được gửi đến Israel mang lại một tường trình không tốt về đất đai. Trong Giô-suê 2:1-24, khoảng 38 năm sau, và Giô-suê cử hai người đi do thám xứ. Lần này, họ không mang về một báo cáo tiêu cực; thay vì thế họ thu được những kiến ​​thức cần thiết để chiếm lấy xứ rồi thành công mang lại những phát hiện của họ cho Giô-suê. Chẳng bao lâu sau đó, Giô-suê đã lãnh đạo con cái Israel bước vào trong Đất Hứa.

Bậc thánh hiền Do Thái dạy rằng khi hai thám tử do thám xứ, họ đã cải trang thành thợ gốm và cứ rao lớn tiếng: “Bình đây! Bình đây”. Tuy nhiên, không những đây là phần giải thích về những gì các thám tử thực sự đã làm; nó còn là một mô tả về trạng thái tâm trí của họ. Khi 10 điệp viên được sai đi trong thời của Môi-se mang về một tường trình không tốt về xứ sở, họ đã chạy theo trình độ của họ. Họ đã tự đóng kín đối với ý muốn của Đức Chúa Trời và chạy theo ý riêng của họ.

Ngược lại, hai thám tử của Giô-suê giống như loại bình bằng đất nung. Loại bình thể ấy không có giá trị nội tại nơi bản thân chúng, giống như những cái bình làm bằng bạc, vàng hoặc sắt. Giá trị duy nhất của nồi làm bằng đất nung là khả năng giữ lấy thứ gì đó. Tương tự như vậy, hai thám tử này cho thấy cái tôi của họ chẳng có chút giá trị gì hết. Thay vì thế, họ thấy giá trị duy nhất của họ là hầu việc giống như loại bình dành cho ý muốn của Đức Chúa Trời. Kết quả, ấy là họ đã thành công trong khi nhiều người khác thất bại.

Một trong những lời cầu nguyện mạnh mẽ nhất mà chúng ta có thể dâng lên là cầu xin Đức Chúa Trời sử dụng chúng ta như một cái bình vậy. Bậc thánh hiền dạy: “Hãy lấy ý muốn của Ngài làm ý muốn của mình, hầu cho Ngài lập ý muốn của bạn thành ý muốn của Ngài. Hãy vô hiệu hoá ý muốn của bạn ở trước ý muốn của Ngài, hầu cho Ngài sẽ vô hiệu hoá ý muốn của nhiều người khác trước ý muốn của bạn”. Nguyện chúng ta sẽ trở thành loại bình thích hợp cho ý muốn của Đức Chúa Trời; nguyện giá trị của chúng ta là sự thoả lòng của Chúa chớ không phải của cái bình bằng đất của chúng ta.


Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

NHIỀU GIỌNG, MỘT TIẾNG


Nhiều Giọng, Một Tiếng
Khi nào trong xứ các ngươi phải ra chiến trận cùng kẻ thù nghịch xông đánh mình, thì phải thổi loa tiếng vang; GIÊ-HÔ-VA, Đức Chúa Trời của các ngươi sẽ nhớ lại các ngươi, và các ngươi sẽ được giải thoát khỏi kẻ thù nghịch. Trong những ngày vui mừng, trong các lễ trọng thể và đầu tháng của các ngươi, thì phải thổi loa khi dâng những của lễ thiêu và của lễ thù ân mình; loa sẽ dùng làm kỷ niệm trước mặt Đức Chúa Trời của các ngươi. Ta là GIÊ-HÔ-VA, Đức Chúa Trời của các ngươi — Dân số ký 10:9–10

Theo truyền khẩu Do Thái, có câu chuyện kể về một ra-bi lỗi lạc kia, ông đưa vợ mình đến gặp bác sĩ. Khi đôi vợ chồng già ngồi trước mặt bác sĩ, ông hỏi lý do tại sao họ đến, và vị ra-bi đáp: “Chân chúng tôi đang làm chúng tôi đau”. Đây là sự hiệp một giữa đôi vợ chồng này. Nỗi đau của bà là nỗi đau của ông, và họ cùng nhau tìm phương chữa trị.

Trong phần Ngũ Kinh [Dân số ký 8:1 – 12:16; Xachari 2:14 – 4:7] của tuần này, chúng ta học biết rằng Đức Chúa Trời đã truyền cho Môi-se phải chế tạo hai cây kèn bằng bạc. Hai cây kèn này phải được thổi lên cùng âm thanh trước khi lâm trận, ở các thời điểm di dời, và để mở ra Ngày Trăng Mới, các lễ hội, và khi các của lễ tương giao được mang đến. Đâu là mục đích của hai cây kèn này? Và tại sao lại cần có hai cây kèn?

Bậc thánh hiền Do Thái giải thích rằng hai cây kèn là lời kêu gọi phải cầu nguyện. Trong tất cả những lần nêu trên, cầu nguyện là thích hợp nhất. Trước khi lâm trận, khi nguy hiểm có thể mường tượng được, người ta được kêu gọi phải xây sang Đức Chúa Trời. Khi là thời gian đi du lịch, không phải là một chiến công đơn giản hoặc cấp thiết an toàn trong thời cổ đại, đó là thời điểm phải xây sang Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện. Tương tự như vậy, trong các thời điểm vui mừng, sự cầu nguyện thật thích đáng giống như một dấu hiệu của lòng biết ơn và dâng sự vinh hiển cho danh của Đức Chúa Trời.

Bậc thánh hiền cũng chỉ ra rằng tiếng Hy-bá-lai nói tới “kèn” chatzotzrot là sự kết hợp của hai từ Hy-bá-lai khác: chatzitzurot, nghĩa là “nửa thân”. Cách chơi chữ này dạy cho chúng ta biết rằng mỗi một cây kèn chỉ là phân nửa của một tổng thể. Chỉ khi hai cây kèn được thổi cùng với nhau, thì mới là âm thanh đầy đủ và trọn vẹn. Đây là lý do tại sao hai cây kèn là cần thiết cho các trường hợp quan trọng này. Chỉ cùng với nhau thì hai cây kèn mới có sức mạnh đáng phải có và ảnh hưởng trên dân sự.

Tương tự, khi chúng ta cầu nguyện, giọng nói của chúng ta mới chỉ là “nửa thân” thôi. Nhưng khi chúng ta cầu nguyện đồng thanh với người khác, “nửa thân” của chúng ta mới trở nên trọn vẹn được. Giống như hai mảnh gỗ có thể chịu đựng nhiều trọng lượng hơn là tổng số những gì mỗi mảnh gỗ mang lấy riêng, cho nên, cũng một thể ấy, những lời cầu nguyện của chúng ta càng mạnh mẽ hơn. Khi một nhóm người thảy đều cầu xin cùng một việc gì đó, lời cầu nguyện của chúng ta càng mạnh mẽ hơn nếu chúng ta mỗi người cầu nguyện theo sức riêng của mình.

Quí bạn hữu của Israel ôi, tôi mời bạn cùng cầu nguyện với chúng tôi. Tôi mong rằng nỗi đau của Y-sơ-ra-ên là nỗi đau của bạn và sự vui mừng của Israel là niềm vui của bạn. Chúng ta thảy đều cùng nhau hiệp lại cầu nguyện cho sự hoà bình giáng trên thành Jerusalem. Cùng với nhau, giọng của chúng ta sẽ vang dội giống như hai cây kèn kia và những lời cầu nguyện của chúng ta sẽ được lắng nghe.



Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018

THIÊN ĐÀNG TRÊN ĐẤT



Thiên Đàng Trên Đất

Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi rằng: Ta hãy đi đến nhà Đức GIÊ-HÔ-VA — Thi thiên 122:1

Nếu bạn tưởng tượng thiên đàng ở trên trái đất, thì nó sẽ trông như thế nào? Một thiên đàng nhiệt đới chăng? Một đỉnh núi mờ ảo ư? Một nơi mà tất cả những người bạn yêu mến đến nhóm lại chăng? Một nơi không có căng thẳng — không có bệnh tật, không có thiên tai, không có thất vọng?


Đâu là một chỗ luôn luôn giống như ngày Sa-bát?

Đối với người Do Thái, chính xác đấy là cách mà thiên đàng — hay đời hầu đến — được mô tả. Cuộc sống ở trên thiên đàng được mô tả như một thời điểm khi nó luôn luôn giống như ngày Sa-bát, một thời điểm khi vẻ đẹp và sự tĩnh lặng của ngày Sa-bát được cảm nhận cách liên tục. Nói cách khác, người Do Thái tin rằng sự tuân giữ ngày Sa-bát giúp cho chúng ta trải nghiệm một tiên vị của đời hầu đến đó và cung ứng cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua về trạng thái sáng tạo lý tưởng mà A-đam và Ê-va từng kinh nghiệm Vườn Ê-đen.

Khái niệm về ngày Sa-bát cũng là trọng tâm đức tin và sự sống của người Do Thái. Nhiều tác phẩm của người Do thái — về pháp lý, về lẽ mầu nhiệm, và về sự giảng đạo — đã được viết ra về chủ đề này nhiều hơn bất kỳ đề tài nào khác. Nó được mô tả bởi các ra-bi Do Thái là shekulah kineged kol hamitzvot: "nhập vào phần còn lại của các điều răn ghép lại với nhau". Người nào tuân giữ ngày Sa-bát được xem là họ đã tuân giữ toàn bộ kinh Torah.

Mọi sự chúng ta làm đều chỉ ra ngày Sa-bát. Đó là một ngày làm mới lại tâm linh của chúng ta, bổ sung sức lực của chúng ta, và hồi sức cho chúng ta để chúng ta có thể đối mặt với một tuần khác. Nhưng nó có ý nghĩa sâu sắc hơn là hình ảnh thu nhỏ của đời sống được nên thánh. Ngày Sa-bát được tuân giữ không phải vì cớ những ngày còn lại trong tuần, mà đúng hơn, những ngày còn lại trong tuần là phần dạo đầu cho sự đến của ngày Sa-bát. Chúng ta sống mỗi ngày với sự trông đợi ngày Sa-bát.

Sẽ ra sao nếu bạn chưng diện tuần lễ của mình với sự trông đợi dành thời gian với Đức Chúa Trời? Nếu bạn nắm lấy thời điểm mỗi tuần khi — thật sự — chẳng có một công việc nào được thực hiện, điện thoại tắt hết, TV im bặt? Làm mới lại và trẻ hóa bạn bằng cách nào chứ? Có gì làm thay đổi được mối quan hệ của bạn với Đức Chúa Trời không?

Giống như triết gia người Do thái Abraham Heschel đã viết, ngày Sa-bát là "đương nhiên là một ốc đảo".

Nghe như thiên đàng ở trên trái đất, có phải không?