Thứ Hai, 5 tháng 2, 2018

YẾU TỐ SỢ HÃI


Yếu Tố Sợ Hãi

Trong ngày sợ hãi, tôi sẽ để lòng nhờ cậy nơi Chúa. Tôi nhờ Đức Chúa Trời, và ngợi khen lời của Ngài; Tôi để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, ắt sẽ chẳng sợ gì; Người xác thịt sẽ làm chi tôi? —Thi thiên 56:3–4

Cách đây vài năm, chương trình truyền hình có nhiều người thích là "Yếu Tố Sợ Hãi" được mở ra với câu nói lạnh lùng: "Hãy tưởng tượng một thế giới trong đó những nỗi sợ hãi lớn nhất của bạn trở thành hiện thực". Trong chương trình, thí sinh phải đối mặt với hàng loạt thách thức ở xung quanh đối mặt với những nỗi sợ hãi nhất thời của họ — bị nhốt trong một không gian nhỏ, bị ném vào một hố đầy những nhền nhện, cùng nhiều cảnh tượng đáng sợ khác nữa.

Nếu thí sinh hoàn tất phần việc của họ, họ cứ tiếp tục. Tuy nhiên, nếu nỗi lo sợ ngăn trở họ, họ bị loại ngay lập tức.

Hầu hết chúng ta sẽ không tự nguyện chọn đối mặt với những nỗi sợ hãi của chúng ta — đặc biệt là trước khán giả truyền hình — nhưng gần như hết thảy chúng ta đều phải vật lộn với các nỗi lo sợ hàng ngày. Nhưng những sợ hãi đó là vô hình. Chúng ta sợ thất bại trong công ăn việc làm, hoặc ở trường; chúng ta sợ sự bất ổn của tương lai chúng ta; chúng tôi sợ sự chối bỏ.

Sợ là một cảm xúc tự nhiên của con người, nhưng nó có thể đến dễ dàng từ chỗ không kiểm soát được và mất thăng bằng. Chúng ta sẽ để cho nỗi sợ hãi phủ lút chúng ta cho đến khi chúng ta không thể làm chi được nữa. Chúng ta sẽ để cho sợ hãi bóp méo lẽ thật cho đến khi chúng ta sợ một điều gì đó cực kỳ khó xảy ra. Và chúng ta sẽ để cho sợ hãi ngày càng to lớn hơn cho tới chừng dường như mọi sự chúng ta có thể suy nghĩ đến và chúng ta không thấy có cách nào khác để xem xét tình huống.

David đã viết Thi thiên 56 khi ông trốn khỏi Sau-lơ và tránh né giữa vòng người Phi-li-tin tại Gát. Khi người Phi-li-tin nhận ra David, ông đã lo sợ cho mạng sống mình, cho nên ông giả điên, thậm chí để cho nước miếng chảy dài xuống hàm râu của mình, để cho nhà vua không nghĩ ông là mối đe doạ (I Sa-mu-ên 21:10-15). Trong bối cảnh đó, David đã viết: "Tôi để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, ắt sẽ chẳng sợ gì; Người xác thịt sẽ làm chi tôi?" (câu 4).

David vô tư nhìn nhận rằng ông cảm thấy sợ hãi, nhưng ông không để cho nỗi sợ đó kiểm soát các tư tưởng và hành động của ông. Thay vì thế, ông trao nỗi sợ đó cho Đức Chúa Trời và tái khẳng định rằng khi ông lo sợ, ông sẽ tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Sợ là không đáng tin cậy bởi vì nó bóp méo thực tại, nhưng chúng ta luôn nhắm đến sự thành tín bền bĩ của Đức Chúa Trời đối cùng chúng ta.

Chúng ta có khuynh hướng nuôi dưỡng nỗi sợ hãi để rồi các nan đề và lo lắng của chúng ta phát triển ngày càng lớn. Nhưng khi chúng ta thừa nhận nỗi sợ của chúng ta với Đức Chúa Trời, chúng ta trưởng dưỡng đức tin thay vì những nỗi sợ hãi của mình. Điều này cho phép chúng ta tin cậy và tin tưởng nơi Đức Chúa Trời ngày càng hơn, trong khi biến nỗi lo sợ của chúng ta ra vô nghĩa. Tin cậy nơi Đức Chúa Trời cho phép chúng ta đối mặt với những nỗi sợ hãi của chúng ta và xử lý chúng một cách hợp lý.

Chúng ta sẽ không đạt được bất cứ việc gì khi làm như vậy, nhưng chúng ta có thể biết, giống như David đã khẳng định, có sự tin tưởng rằng Đức Chúa Trời sẽ giải cứu chúng ta và giữ cho chúng ta không vấp ngã: "Vì Chúa đã giải cứu linh hồn tôi khỏi chết: Chúa há chẳng giữ chân tôi khỏi vấp ngã, hầu cho tôi đi trước mặt Đức Chúa Trời trong sự sáng của sự sống?" (câu 13).

Và quí bạn ơi, điều đó thì tốt hơn bất kỳ giải thưởng nào của đời nầy.


Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

CHA CỦA SỰ THÀNH CÔNG


Cha Của Sự Thành Công

Tôi sẽ hết lòng cảm tạ Chúa, hát ngợi khen Chúa trước mặt các thần — Thi thiên 138:1

Câu nói: "Thành công có nhiều cha, còn thất bại là một đứa trẻ mồ côi". Ai nầy mau mắn giành lấy công trạng cho các chuyến mạo hiểm thành công, song không người nào muốn gánh lấy trách nhiệm cho các nỗ lực thất bại. Dầu vậy, trong Thi thiên 138, Vua David đã làm ngược lại!

Thi thiên bắt đầu: Tôi sẽ hết lòng cảm tạ Chúa, hát ngợi khen Chúa trước mặt các thần. Bậc thánh hiền Do-thái thắc mắc: "Đa-vít muốn đứng trước mặt các thần nào khi ông ca ngợi Đức Chúa Trời?"

Bậc thánh hiền giải thích rằng từ ngữ elohim tiếng Hy-bá-lai có nghĩa là "các thần", nhưng nó cũng có nghĩa là "các quan chức cao cấp". Họ kết luận rằng trong trường hợp này, David mong muốn cất tiếng ngợi khen Đức Chúa Trời trước mặt các vị vua khác. Tại sao ông làm muốn làm như thế chứ?

Lý do là vì David muốn dạy cho những vị vua này một bài học thật mạnh mẽ. Các vị vua thành công khác có khuynh hướng gán sự thành công của họ cho khả năng và sự thông thái của chính họ. Tuy nhiên, David đã đưa ra một lời tuyên bố sâu sắc bằng cách ngợi khen Đức Chúa Trời trước mặt các vị vua khác và để khiến họ nhận biết rằng không một thành công nào là sự thành công của chính ông.

Trong khi dễ khiến cho thế gian tôn vinh mình sau nhiều chiến thắng nhiều của ông, trong khi ông chưa được trang bị và chưa có tư thế, David đã không mong muốn một sự tôn sùng nào cả. Thay vì thế, ông đã dành mọi công trạng cho Đức Chúa Trời: "Trong ngày tôi kêu cầu, Chúa đáp lại, giục lòng tôi mạnh mẽ" (câu 3). Chính Đức Chúa Trời là Đấng đã khiến Ða-vít ra mạnh mẽ và đắc thắng. David thừa nhận rằng nếu không có Đức Chúa Trời, ông đã thất bại. Ông sở hữu thất bại và tuyên bố rằng Đức Chúa Trời là Cha duy nhất của mọi thành công!

Kinh Thánh cảnh báo chúng ta rằng có nguy cơ dành lấy công trạng cho mọi thành tựu của chúng ta trong cuộc sống. Trong tiến trình tập trung vào cấp độ tuyệt vời của chúng ta, chúng ta quên phứt Đức Chúa Trời cả thể là dường nào. Trong Phục truyền luật lệ ký 8:17-18, chúng ta đọc một lời cảnh cáo phải nhớ đến Đức Chúa Trời khi chúng ta được thoả lòng – sau khi chúng ta xây nhà và rất thành công trong kinh doanh. Chúng ta không nên nói: "Ấy nhờ quyền năng ta và sức lực của tay ta mà đoạt được những sản nghiệp nầy" (câu 17). Thay vì thế, chúng ta cần phải công nhận Nguồn của sự thành công và ơn phước của chúng ta: "Hãy nhớ lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vì ấy là Ngài ban cho ngươi sức lực đoạt được những sản nghiệp" (câu 18). Một mình Đức Chúa Trời là sức mạnh ở đằng sau thành công của chúng ta. Hoặc như lời tiên tri Xa-cha-ri đã viết: "Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy" (Xa-cha-ri 4:6).

David ước ao cái ngày mà mọi người trong thế gian sẽ công nhận ra lẽ thật vĩ đại này và hết thảy các vị vua sẽ ngợi khen Đức Chúa Trời (câu 4), và như vậy, ông đã dẫn đường bằng cách đặt một trường hợp. Chúng ta hãy cùng làm theo y như thếNguyện chúng ta cũng làm y như thế. Hãy khen ngợi Đức Chúa Trời trước mặt bạn bè, gia đình và cộng đồng của bạn. Quan trọng nhất, hãy khen ngợi Đức Chúa Trời trong các phần sâu thẳm nhất trong chính linh hồn của bạn.


Thứ Năm, 1 tháng 2, 2018

QUÊ HƯƠNG ĐỜI ĐỜI CỦA NGƯỜI DO THÁI


Quê Hương Đời Đời Của Người Do-thái

Khi ngày gần chết, Y-sơ-ra-ên gọi Giô-sép, con trai mình, mà nói rằng: Nếu cha được nhờ ơn trước mặt con, xin hãy để tay lên đùi cha cậy hết lòng nhân từ và thành thực ở cùng cha, xin con đừng chôn cha tại đất Ê-díp-tô. Khi cha an-giấc cùng tổ phụ rồi, hãy đem cha ra khỏi Ê-díp-tô; chôn chung cùng mồ mả của người. Giô-sép thưa rằng: Con sẽ làm y theo lời cha dặn — Sáng thế ký 47:29–30

Trong Ngày Di Sản Do-thái năm 2010, một vị ra-bi đã nhận được nhiều hơn ông tính trước, vì khi ông được một phóng viên và là thành viên của tốp báo chí tại Nhà Trắng là Helen Thomas nổi tiếng phỏng vấn. Bà đưa ra hình ảnh mà máy quay chụp được, đã gửi sóng xung kích qua thế giới và chính cuộc sống cá nhân của bà. Bà Thomas nói rằng người Do-thái phải "ra khỏi xứ Palestine" rồi "về quê hương ở Đức và Ba-lan". Lời phát biểu của bà không những là bài Do-thái mà còn mù quáng nữa; chúng là một sự sai sót nặng nề về lịch sử cho thấy rằng bà, một là thiếu hiểu biết hoặc muốn viết lại quá khứ. Những lời lẽ đáng trách của bà khiến cho bà Thomas phải trả giá bằng công việc, tiếng tăm vượt bực, và đặt một dấu chấm đen không thể xóa nhòa trên sự nghiệp nổi bật của bà.

Những bình luận của bà Thomas đã gây sốc, đặc biệt một khi chúng đến từ một phụ nữ được cho là hiểu biết, đã tường trình về khu vực trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, chắc chắn bà không phải là một mình trong tình cảm của bà. Có hàng triệu người tin rằng người Do-thái nên "về quê hương ở Đức và Ba-lan", những chỗ mà hàng triệu người Do-thái bị giết chỉ vài thập kỷ trước. Nhưng dầu khi hai "quê hương" đó không phải là những địa điểm áp bức đối với người Do-hái, điều đó vẫn không làm thay đổi được sự thực là dân Do-thái chỉ có một thủ đô và một quê hương cho hết thế hệ nầy sang nhiều thế hệ khác.

Địa điểm đó là Israel, và thủ đô của chúng ta đang, đã và sẽ mãi mãi là Jerusalem.

Trong phần đọc Kinh Thánh tuần này [Sáng thế ký 47:28 – 50:26; I Các Vua 2:1-12], Gia-cốp đã qua đời ở Ai-cập, ông đã sống ở đó 17 năm cuối đời mình với gia đình. Trước khi chết, Gia-cốp đã buộc Giô-sép phải thề sẽ không chôn cất ông ở xứ Ai-cập, mà là ở trong xứ Israel. Bậc thánh hiền Do-thái chỉ ra rằng điều này sẽ không là dễ dàng lo liệu đối với Giô-sép.

Ngoài các dịch vụ hậu cần về đi lại, Giô-sép cũng đã gặp phải sự phản kháng cực độ từ Pha-ra-ôn. "Xứ Ai-cập há không tốt cho người Do-thái các ngươi sao? Đúng là một sự sỉ nhục!"

Tại sao được chôn cất trong xứ Israel là quan trọng đối với Giacốp chứ? Về sau, Giô-sép bị chôn ở Ai-cập và yêu cầu rằng khi người Do-thái rời đi, họ chỉ cần đưa ông theo cùng với họ. Tại sao chừng ấy là chưa đủ đối với Gia-cốp?

Bậc thánh hiền giải thích rằng Gia-cốp đã nhìn thấy trước rằng vì con cái của ông sống rất thoải mái ở Ai-cập, họ có thể dễ quên rằng Israel mới là quê hương thật sự của họ. Thậm chí là ngày nay, chỉ cách phía Nam Jerusalem 30 phút thôi, chúng ta có thể ghé thăm Hang đá Mặc-bê-la (mộ của các vị tộc trưởng), Gia-cốp đã được chôn ở đó.

Đây vẫn là một bằng chứng đời đời cho sự thực rằng, bất chấp các Helen Thomas của thế giới nói gì đi nữa, Israel là quê hương của con cháu Israel (là tên mà Đức Chúa Trời ban cho Gia-cốp, Sáng thế ký 32:28). Luôn luôn là vậy và sẽ luôn luôn là vậy. Ai nấy trong chúng ta đều biết phải chia sẻ không mệt mõi lẽ thật này với thế gian.