Thứ Năm, 14 tháng 7, 2016

HƠN NGÀY SANH?


Hơn Ngày Sanh?
 Danh tiếng hơn dầu quí giá; ngày chết hơn ngày sanh  — Truyền đạo 7:1

Mới đây, tôi có dự một đám tang một người phụ nữ đã sống rất thọ. Tuy nhiên, giống như bất cứ ai đã mất đi người thân đều biết đấy, nỗi đau của việc mất người thân, nó đến bất luận người ấy có thể sống bao lâu. Nhóm người tập trung ở tang lễ rất trọng thể và đầy nước mắt. Tuy nhiên, khi một diễn giả bắt đầu tán dương người quá cố, ông bắt đầu với câu sau đây từ sách Truyền đạo: Danh tiếng hơn dầu quí giá; ngày chết hơn ngày sanh.

Tôi không có nghi ngờ gì cái ngày mà người đã khuất được sinh ra là một ngày rất vui vẻ. Và khi tôi nhìn quanh các khuôn mặt của những người đưa tang, rõ ràng ngày nầy là một ngày rất buồn. Vì vậy, vua Solomon muốn nói gì khi ông cho rằng ngày chết thì tốt hơn ngày sanh chứ?

Bậc thánh hiền Do Thái đưa ra một thí dụ để minh họa cho ý tưởng đó.

Một con tàu mới đã kéo neo ra biển lần đầu tiên. Một nhóm người tụ tập để trao gửi niềm vui lớn lao với con tàu. Đồng thời, một chiếc tàu cũ hơn đã trở về từ chuyến hành trình cuối cùng của nó. Con tàu ấy đã cũ và cùn đi, sẵn sàng để được nghỉ hưu sau chuyến trở về đó. Trong khi mọi người khác lo cổ vũ con tàu mới, chỉ có một người vui vẻ chào đón con tàu cũ.

Những người khác đã hỏi người ấy tại sao ông phấn khích nhiều về con tàu cũ không bao lâu nữa sẽ trở thành một đống ve chai hơn con tàu mới trên chuyến hải hành đầu tiên của nó. Người ấy giải thích rằng khi một con tàu bắt đầu chuyến hành trình trên biển, tương lai của nó là không rõ ràng. Nó có thể bị cướp biển chiếm lấy hoặc nó có thể chìm ở giữa đại dương. Trong trường hợp con tàu có hoàn tất sứ mệnh của nó hay không, điều nầy đã vượt quá dự đoán của bất kỳ ai. Tuy nhiên, khi một con tàu cũ từ biển về đến thì đã hoàn thành sứ mệnh của mình một cách thành công, khi ấy mọi hồ nghi không còn có nữa. Con tàu đã thành công và đó là lý do để vui vẻ.

Vì vậy, khi một người được sanh ra, chúng ta không biết rồi đây người ấy sẽ ra thể nào. Nhưng nếu họ sống một đời sống nhơn đức, giữ lòng trung thành với Chúa, rồi khi cuộc sống của họ là trọn vẹn, chúng ta có thể vui mừng và được yên ủi trong sứ mệnh thành công của họ thậm chí ở giữa sự buồn rầu của chúng ta.

Chúng ta hãy nhớ rằng bao lâu chúng ta còn sống, chúng ta giống như một con tàu trên đại dương. Việc của chúng ta là giữ cho tàu trên chuyến hải hành và chu toàn các sứ mệnh được chúng ta mong đợi. Chúng ta quyết định sự thành công cuộc sống của chúng ta. Nếu chúng ta cứ tập trung và kiên quyết, khi ấy ngày cuối cùng của chúng ta thậm chí có thể tốt hơn so ngày đầu tiên của chúng ta.


Thứ Tư, 13 tháng 7, 2016

LUÔN CHỖI DẬY MỘT LẦN NỮA


Luôn Chỗi Dậy Một Lần Nữa
Vậy, người lìa bỏ chỗ mình đã ở, cùng hai dâu mình lên đường đặng trở về xứ Giu-đa — Rutơ 1:7

Bậc thánh hiền Do thái dạy rằng có ba mục đích cho sự tồn tại của nhân loại trên thế gian – để tìm hiểu, để phục vụ Đức Chúa Trời, và để đánh các chiến trận của sự sống. Về phần việc thứ ba nầy, chúng ta phải nhớ rằng không phải một chiến sĩ nào mà không bị đánh hạ vào lúc nầy hoặc lúc khác. Từng chiến sĩ bước vào vòng chiến đấu đều nhận biết điều này sẽ xảy ra. Tuy nhiên, trong bộ môn quyền anh, vô luận bao nhiêu lần chúng ta bị đo ván; vấn đề quan trọng là chúng ta phải chỗi dậy.

Trong sách Rutơ,  chúng ta đọc: Vậy, người lìa bỏ chỗ mình đã ở, cùng hai dâu mình lên đường đặng trở về . . . ". Phần nầy của câu chuyện đề cập đến bà mẹ chồng của Rutơ, là Naômi. Naômi đã rời xứ Giu-đa với người chồng giàu có của mình cùng hai con trai qua xứ Mô-áp vì có cơn đói kém trong xứ Giu-đa.

Theo truyền khẫu Do Thái, chồng Naômi đã rời xứ Giu-đa, vì ông không muốn gánh nặng của việc hỗ trợ dân sự mình mặc dù ông có khả năng làm công việc ấy. Như sự báo ứng thiêng liêng, trước tiên chồng của Naômi qua đời ở xứ Mô-áp. Tiếp đến, sau khi hai con trai của bà đã kết hôn, họ cũng qua đời luôn. Naômi thấy mình không một xu dính túi và chẳng còn gì cả. Bà đã rơi xuống tận đáy vực thẳm.

Đây là những gì làm cho lời lẽ đầu tiên của câu này ra mạnh mẽ như vậy. Dịch sát nghĩa từ nguyên ngữ Hybálai, câu gốc khởi sự: "Và bà chỗi dậy …".

Naômi đã bị hạ nốc ao thật nặng nề. Bà trải đi từ một cuộc sống thoải mái, là vợ của một người quí tộc giàu có, đến chỗ góa bụa nghèo khổ, bà đã kết hôn với một người đàn ông quay lưng lại với đồng bào của mình. Cuộc sống hạ nốc ao bà một lần nữa khi cả hai con trai của bà qua đời để bà lại chẳng còn có phương tiện hỗ trợ nào cả. Nhưng Naômi đã chỗi dậy. Bà trở về quê hương mình tại thành Bếtlêhem, bất chấp xấu hổ và khó khăn của mình.

Bậc thánh hiền Do Thái làm một sự so sánh thú vị giữa Naômi và vợ của Gióp. Cả hai sách đều là những câu chuyện nói tới chỗ giàu thành ra giẻ rách, một sự đảo ngược sự nghiệp đến chỗ tồi tệ nhất. Vợ của Gióp cũng mất hết con cái, tài sản của mình, và trong tiến trình đó, bà gần như mất cả chồng mình. Nhưng hãy nhìn vào cách bà ấy phản ứng. Vợ của Gióp nói với ông: "Hãy phỉ báng Đức Chúa Trời và chết đi!" (Gióp 2:9). Bà đã thua cuộc hoàn toàn và khuyên Gióp cũng nên làm như vậy.

Giờ đây, hãy xem phần kết của mỗi câu chuyện. Vợ của Gióp vẫn cứ không tên tuổi, và bà gần như chẳng được đề cập đến nữa, ngay cả khi phần kết vui vẻ của quyển sách. Còn Naômi – bà trở thành tổ mẫu của vua David! Tổ mẫu của Đấng Mêsi! Sự từ chối của Naômi không chịu bỏ cuộc đã lót đường cho sự cứu chuộc.

Tôi không nghĩ rằng là bởi tình cờ mà việc đầu tiên chúng ta làm mỗi buổi sáng sát nghĩa là "chỗi dậy". Điều nầy giống như thể Đức Chúa Trời nhắc cho chúng ta nhớ mỗi ngày rằng chúng ta có thể chỗi dậy theo từng ý nghĩa của từ ngữ. Vô luận ngày hôm trước có xấu đến cở nào đi nữa hay chúng ta phải đối mặt với ngày hôm nay như thế nào đi nữa, chúng ta phải chỗi dậy, đừng bao giờ bỏ cuộc, và tiến tới trước trong đức tin.


Thứ Ba, 12 tháng 7, 2016

NGUỒN CỦA MỌI ƠN PHƯỚC


Nguồn Của Mọi Ơn Phước
“Tôi đã làm cho linh hồn tôi êm dịu an tịnh, như con trẻ dứt sữa bên mẹ mình; Linh hồn ở trong mình tôi cũng như con trẻ dứt sữa vậy — Thi thiên 131:2

Bậc cầm quyền của các nước xưa thường tự xem mình là không kém hơn các vị thần. Pharaôn đấy hình ảnh của họ đúc thành những hình tượng, và các vua xuyên suốt lịch sử đã khoe về sức mạnh lớn lao của họ. Họ tin sống và chết, giàu và nghèo, tự do và nô lệ, hết thảy đều ở vào quyền lực nơi bàn tay của họ. Không có gì phải kinh ngạc khi hạng người nầy coi mình tương đương hoặc thấp hơn Đức Chúa Trời một chút, và ở trên nhiều người khác.

Ngược lại, Vua David tuyên bố trong Thi thiên 131 rằng ông không dự vào nhận định nầy cho dù là thế nào đi nữa. Mặc dù ông lãnh đạo đội quân hùng mạnh của Israel với vô số chiến thắng, và mặc dù ông là vua của một nước lớn, David không hề xem mình là trên những người khác. Ông viết: "Hỡi Đức Giê-hô-va, lòng tôi không kiêu ngạo, mắt tôi không tự cao, tôi cũng không tìm tòi những việc lớn, hoặc những việc cao kỳ quá cho tôi" (câu 1). Vua David biết rõ vị trí của mình – ông là tôi tớ của Đức Chúa Trời và của dân sự Ngài.

David mô tả vị trí của mình trên thế gian qua một sự loại suy, sánh mình với một con trẻ còn bú mớm. Giống như một con trẻ vô dụng và đói khát nếu không có mẹ nó, thì cũng một thể ấy, David dễ bị tổn thương và thiếu thốn nếu không có sự vùa giúp thiêng liêng đến từ Đức Chúa Trời. David không bao giờ nghĩ rằng ông là Thần Linh cả; thực vậy, ông biết mình chẳng là gì hết nếu không có Đức Chúa Trời. Mọi sự ông đã có và mọi sự mà ông đã trở thành đều là kết quả sự nhân từ của Đức Chúa Trời.

Thi thiên ngắn ngủi nầy kết thúc với huấn thị của David rằng chúng ta nên đặt lòng tin cậy nơi Chúa vì chỉ có Đức Chúa Trời mới là Đấng nâng đỡ chúng ta. David ám chỉ rằng hết thảy chúng ta đều giống như con trẻ còn được bồng ẳm tìm sự no đủ của mình từ người mẹ yêu thương. Thật là dại dột khi tin tưởng vào bất cứ điều gì khác khi mọi sự mà chúng ta có cần là sẵn có từ Cha kính yêu của chúng ta.

Bậc thánh hiền Do Thái dạy rằng "còn hơn đứa trẻ cần sữa, người mẹ muốn cho bú nữa". Khi một đứa trẻ cần sữa, nó cảm thấy đói. Nhưng khi một bà mẹ sẵn sàng cho con bú mà bà không thể, bà cảm thấy đau đớn. Một bà mẹ chẳng muốn gì hơn là cho con bú khi nó đói. Vì vậy, Đức Chúa Trời cũng muốn chúng ta vui vẻ và thoả lòng. Nhưng chúng ta chỉ có thể nhận sự dinh dưỡng từ Đức Chúa Trời khi chúng ta cứ ở gần bên Ngài.

Hãy lắng nghe vua David và nhớ rằng hết thảy chúng ta đều là con cái của Đức Chúa Trời – Ngài nuôi nấng chúng ta, Ngài nâng đỡ chúng ta. Chỉ một mình Ngài là nguồn của mọi ơn phước.