Thứ Tư, 25 tháng 11, 2015

TRỤ MÂY


Trụ Mây
“Ngài ở trong trụ mây phán với họ: Họ giữ các chứng cớ Ngài, và luật lệ mà Ngài ban cho”  — Thi thiên 99:7

Một trong các chiến dịch quân sự của Israel cách đây vài năm chống lại tổ chức khủng bố Hamas đã được gán cho cái tên rất là đặc biệt. Nhưng có lẽ nó đã bị thất lạc trong khi phiên dịch cho hầu hết mọi người. Theo nguyên ngữ Hêbơrơ, amud ha'anan sát nghĩa là "trụ mây". Tuy nhiên, trong chiến dịch quân sự này, phương tiện truyền thông chính thống đề cập đến nó là "Trụ Quốc Phòng".

Sao phải thay đổi chứ?

Để hiểu rõ trụ mây lại được đổi là Trụ Quốc Phòng, chúng ta cần phải trở lại với các thời kỳ trong Kinh Thánh, khi con cái Israel đã rời khỏi Aicập. Khi họ đứng bên Biển Đỏ ở trước mặt và quân Ai Cập ở sau lưng, họ không thể xây qua nơi nào khác được nữa. Ngay trước khi Biển Đỏ được chia ra thật lạ lùng, chúng ta khám phá ra phép lạ này: ". . . trụ mây đứng về giữa khoảng trại người Ê-díp-tô và trại dân Y-sơ-ra-ên. . . " (Xuất Êdíptô ký 14:19-20).

Trụ mây đã hướng dẫn dân Israel lúc ban ngày giờ đi bọc hậu để bảo vệ họ khỏi kẻ thù ở đằng sau. Truyền khẩu Do Thái dạy rằng suốt cả đêm, quân Aicập bắn tên và đá vào con cái Israel, nhưng Đức Chúa Trời "bắt" lấy tất cả các thứ ấy trong trụ mây của Ngài.

Giờ đây, chúng ta có thể hiểu rõ lý do tại sao Israel chọn thuật ngữ này để tiêu biểu cho chiến dịch ngăn các hỏa tiển của Hamas không đến được với người Do thái vô tội. Và chúng ta cũng hiểu rõ lý do tại sao các phương tiện truyền thông sẽ tìm thấy ở Trụ Quốc Phòng một mô tả chính xác về các dự tính của người Israel. Trụ mây là một biểu tượng quốc phòng của Israel – từ khi ấy và bây giờ.

Trong Thi thiên 99, chúng ta lại đến với trụ mây một lần nữa, nhưng trong một bối cảnh khác: "Ngài ở trong trụ mây phán với họ…". Môise, Arôn, và Samuên kêu cầu với Chúa, và Ngài trả lời cho họ qua trụ mây ngự ngay trên Đền Tạm, là Nhà Tạm của Đức Chúa Trời. Dường như trụ mây là một ống dẫn qua đó hạng người thánh khiết nầy mới có thể tiếp cận sự hướng dẫn thiêng liêng rồi làm theo sau đó.

Vì vậy, trụ mây là gì chứ? Một lá chắn vũ trụ hoặc đường dây điện thoại của thiên đàng?

Câu trả lời là cả hai. Trụ mây tiêu biểu cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời trên đất. Đôi khi nó đến với hình thức bảo hộ, và các lần khác trong vai trò hướng dẫn. Tôi hy vọng rằng vì cớ Israel, nó vẫn là cả hai cho ngày hôm nay. Với sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ luôn luôn thành công trong việc bảo vệ người dân không bị tổn hại. Tuy nhiên, tôi cũng nguyện rằng xứ sở của chúng ta sẽ tiếp tục nhìn thấy bàn tay của Đức Chúa Trời trong sự bảo hộ cho chúng ta, và kết quả là, có đức tin lớn hơn và tin cậy nơi sự dẫn dắt của Ngài.



Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015

MỌI SỰ NHƯ ĐÁNG PHẢI CÓ


Mọi Sự Như Đáng Phải Có
“Khi mây đầy nước, nó bèn mưa xuống đất; khi một cây ngã về hướng nam hay về hướng bắc, hễ ngã chỗ nào nó phải ở chỗ đó” — Truyền đạo  11:3

Bất cứ khi nào tai vạ đánh vào nhà nước Israel, có nỗi buồn mênh mông và một cảm giác mất mát kỳ lạ. Tuy nhiên, cũng có đôi chút cảm hứng và không tránh khỏi cái nhìn thoáng qua chủ nghĩa anh hùng nổi bật lên. Một cái nhìn như thế đến từ Odell, vợ của Aaron Benita. Gia đình Benita là một trong những nạn nhân đầu tiên trong làn sóng khủng bố mới nhất. Khi họ quay trở về từ giờ cầu nguyện tại Bức tường phía Tây, một tên khủng bố đã tấn công họ bằng dao và bắn đứa con hai tuổi của họ nơi chân. Aaron qua đời vì vết thương của mình trong khi Odell bỏ chạy cầu cứu với con dao vẫn còn dính trong lưng. Cả hai, nàng và đứa con hãy còn sống.

Bạn đồng sự của tôi đã đến thăm Odell yên ủi và hỗ trợ. Ông hỏi Odell, không biết cô có nổi giận với Đức Chúa Trời hay không, hoặc cô đã phấn đấu với việc tại sao Đức Chúa Trời lại để cho điều nầy xảy ra!?! Khi nghe câu hỏi của ông, Odell nhanh chóng giấu mặt mình giống như thể cô rất sợ nghe câu hỏi ấy. Cô cho biết cô có đức tin, rằng mọi sự đều có ý nghĩa cả.

Mặc dù cô rất buồn, Odell chấp nhận mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Cô tiếp tục giải thích phép lạ của Đức Chúa Trời trong việc cứu lấy mạng sống của cô. Khi mấy người lính đến cứu cô, sau đó họ giải thích, thực ra là con dao đã dính vào lưng quá lâu làm ngưng chảy máu cho đến chết. Nếu kẻ tấn công rút con dao ra, cô cũng sẽ chết từ cuộc tấn công đó.

Trong sách Truyền đạo, chúng ta đọc: “khi một cây ngã về hướng nam hay về hướng bắc, hễ ngã chỗ nào nó phải ở chỗ đó”. Ba’al Shem Tov, một vị rabi nổi tiếng trong thế kỷ 18 ở Ukraine nối câu Kinh thánh nầy với một câu khác từ I Sử ký 28:9: ". . . nhận biết Đức Chúa Trời của cha, hết lòng vui ý mà phục sự Ngài”. Câu Kinh thánh nầy có ăn nhập gì với câu Kinh thánh kia chứ?

Vị rabi lỗi lạc giải thích việc nhìn biết Đức Chúa Trời có nghĩa là nhìn biết mọi sự đều đến từ Đức Chúa Trời. Nghĩa là có nhận thức đầy đủ suốt cuộc đời chúng ta rằng Đức Chúa Trời đang vận hành mọi sự và là nguyên nhân ở đằng sau từng sự việc xảy đến trong đời sống chúng ta. Cùng với những dòng này, vị rabi Do Thái giải thích câu Kinh thánh từ sách Truyền đạo như sau: “khi một cây ngã về hướng nam hay về hướng bắc, hễ ngã chỗ nào nó phải ở chỗ đó”. Nói cách khác, mọi sự trong cuộc sống, từ các cuộc chiến tranh lớn tới làn gió hiu hiu đều phải do Đức Chúa Trời ấn định, Ngài là Chúa Tể của vũ trụ.

Khi tôi nghĩ đến sức lực của bậc anh hùng như Odell Benita, tôi nhớ lại rằng nếu một người có được đức tin không chao đảo nơi Đức Chúa Trời sau khi kinh nghiệm một tai họa kinh khiếp dường ấy, huống chi chúng ta phải có cùng thái độ biết ơn khi những việc nhỏ trong đời không xảy có theo đường lối của chúng ta? Nguyện hết thảy chúng ta chấp nhận mọi hoàn cảnh với tình yêu thương và ân điển giống như một cống hiến cho những người đã gánh chịu mọi giông bão tồi tệ nhất hơn cả hoàn cảnh của chúng ta và có đức tin và sự tin kính nổi bật lên.


Thứ Hai, 23 tháng 11, 2015

HÃY TRƯỞNG DƯỠNG LINH HỒN

Hãy Trưởng Dưỡng Linh Hồn
“Mọi sự lao khổ của loài người là vì miệng mình, song không hề được thỏa nguyện” — Truyền đạo  6:7

Trong sách Truyền đạo, chúng ta đọc:  “Mọi sự lao khổ của loài người là vì miệng mình, song không hề được thỏa nguyện”. Ở bề mặt, câu nầy dạy cho chúng ta biết rằng vô luận chúng ta đạt được bao nhiêu trong lãnh vực vật chất, thì cũng sẽ chẳng bao giờ là đủ đâu. Thật vậy, bậc thánh hiền Do Thái dạy rằng: "không ai rời khỏi thế gian này thậm chí với một nửa ham muốn được thỏa của mình".

Khẫu vị của con người giống như một cái hố sâu không đáy. Trong khi bài học này là thật và có tính cách dạy dỗ, bậc thánh hiền dạy rằng có một cách khác để đọc câu này – là cách để chúng ta lại với phần hướng dẫn làm thế nào để đạt được sự thỏa mãn thực sự trong cuộc sống.

Bậc thánh hiền dạy rằng trong khi vế đầu của câu này đề cập đến lãnh vực vật chất, vế sau đề cập đến chính tình trạng thuộc linh của chúng ta. Trong khi mọi người nỗ lực để tìm gặp sự thỏa mãn qua việc trưởng dưỡng cho cái tôi phần xác, họ không bao giờ thỏa lòng vì họ thờ ơ với linh hồn.

Một câu chuyện vui được thuật lại về một người kia bước vào một phòng mạch của vị bác sĩ với một quả dưa chuột ở nơi mũi của mình, một củ cà rốt trong lỗ tai nầy, và quả chuối trong lỗ tai kia. Bệnh nhân than phiền với bác sĩ rằng ông ta chỉ cảm nhận không đúng thôi. Vị bác sĩ đáp: "Tất nhiên là ông không cảm nhận được rồi. Ông không ăn uống đúng cách đấy thôi!"

Mục đích của câu chuyện vui ấy là nếu chúng ta không ăn uống đúng cách, chúng ta sẽ không gặt hái được những lợi ích của việc dinh dưỡng. Điều này là thật đúng về mặt thuộc thể, cũng đúng như về mặt thuộc linh. Không may, tôi nghĩ là có nhiều người đi lòng vòng hôm nay với thứ linh hồn và tâm linh gầy còm suy dinh dưỡng. Sở dĩ như vậy là vì lẽ ra cung ứng cho bản thân họ thứ thực phẩm thích ứng cho linh hồn, họ lại nỗ lực cho tâm linh của họ ăn với các thứ vật chất, là thứ mà linh hồn chẳng ham muốn cũng chẳng cần đến.

Bậc thánh hiền minh họa cho ý tưởng này với phần loại suy sau đây: Hãy tưởng tượng đi, một người dân thường cưới một cô công chúa làm vợ. Anh ta chi hết tiền bạc của mình vào việc tìm kiếm cho nàng các món quà hòng khiến cho nàng sẽ cảm thấy vui vẻ. Vấn đề, ấy là không có gì anh ta mua làm cho cô công chúa thấy thỏa lòng cả. Rốt lại, nàng là một cô công chúa, là người thường sử dụng những thứ tốt nhứt trong cuộc sống. Chỉ có những thứ có tầm cỡ cao hơn các món dân gian mới có thể làm cho cô công chúa thấy thỏa mãn mà thôi.

Cũng một thể ấy, linh hồn chúng ta cũng giống như nàng công chúa đó. Linh hồn đến trực tiếp từ Vua thiên thượng của chúng ta và quen thuộc với những thứ tốt hơn so với của cải vật chất thấp hèn ở trên đất. Trừ phi chúng ta trưởng dưỡng linh hồn mình với những thức cao cấp hơn, chúng ta sẽ mãi mãi không thầy thỏa lòng đâu.

Những thứ tốt hơn làm thỏa mãn cho linh hồn không phải là đồ vật đâu. Đó là sự cầu nguyện và sự tương giao với Đức Chúa Trời. Đó là những hành động tử tế được làm ra với tình yêu thương. Linh hồn sẽ suy gẫm Lời của Đức Chúa Trời và dầm thấm các sứ điệp. Ngày nay, nguyện chúng ta biết nuông chìu linh hồn mình với sự dinh dưỡng mà nó khao khát và thực phẩm thuộc linh nó cần đến.



Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015

TỬ TẾ HƠN CẦN THIẾT


Tử Tế Hơn Cần Thiết
Hỡi Ep-ra-im, thể nào ta bỏ được ngươi? Hỡi Y-sơ-ra-ên, thể nào ta lìa được ngươi? Thể nào ta sẽ đãi ngươi được như At-ma, hay là làm cho ngươi như Sê-bô-im? Lòng ta rung động trong ta; lòng thương xót của ta cả đều nóng nảy” — Ôsê 11:8

Phần đọc Kinh thánh tuần nầy đến từ sách Ôsê. Quyển sách bắt đầu với một trong những mạng lịnh kỳ lạ mà Đức Chúa Trời từng ban cho vị tiên tri. Đức Chúa Trời phán  với Ô-sê: "Hãy đi, lấy một người vợ gian dâm, và con cái ngoại tình; vì đất nầy chỉ phạm sự tà dâm, lìa bỏ Đức Giê-hô-va . . . " (Ôsê 1:2). Đức Chúa Trời truyền cho Ôsê phải lấy một người nữ bất trung rồi khởi sự một gia đình với nàng. Tại sao Đức Chúa Trời lại ban ra một mạng lịnh đặc biệt quá như vậy chứ?

Bậc thánh hiền Do Thái giải thích rằng Đức Chúa Trời và Ô-sê đã có một sự trao đổi diễn ra trước những sự kiện đã được ghi lại trong sách. Nó tiếp tục một câu chuyện giống như vầy:

Đức Chúa Trời: "Các ngươi đã phạm tội".

Ô-sê: "Vì thế, hãy đổi chúng để lấy một 
 dân khác đi".

Nào. Đáp ứng của Ô-sê, có lẽ không phải là tử tế đâu. Thay vì gán cho dân Israel, ông đã sẵn sàng nới tay với họ rồi thay thế họ bằng một nhóm dân mới. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã có nhiều kế hoạch khác nhau. Đức Chúa Trời, là Đấng yêu thương con cái Israel và đã cam kết với họ như chồng cam kết với vợ, quan tâm Israel nhiều lắm đến nỗi không muốn buông ra.

Đức Chúa Trời muốn Ôsê hiểu rõ nhận định này và vì thế Ngài đã đặt Ôsê vào đúng vị trí đó. Ôsê được truyền cho phải kết hôn với một người phụ nữ không biết đến chung thủy và có con cái với cô ấy. Trong khi Ôsê cứ mãi yêu thương vợ mình, nàng ta mau mắn phản bội ông. Giờ đây, Ôsê biết rõ Đức Chúa Trời đã cảm nhận như thế nào, Khi Đức Giê-hô-va bắt đầu phán cùng Ô-sê, Đức Giê-hô-va bảo người rằng: “Hãy đi, lấy một người vợ gian dâm, và con cái ngoại tình; vì đất nầy chỉ phạm sự tà dâm, lìa bỏ Đức Giê-hô-va" (Ôsê 1:2).

Phần đọc Kinh thánh khởi sự ở chương 11, và với nền tảng này chúng ta có thể hiểu được lời lẽ của Đức Chúa Trời trong câu 8: Hỡi Ep-ra-im, thể nào ta bỏ được ngươi? Hỡi Y-sơ-ra-ên, thể nào ta lìa được ngươi? Thể nào ta sẽ đãi ngươi được như At-ma, hay là làm cho ngươi như Sê-bô-im? Lòng ta rung động trong ta; lòng thương xót của ta cả đều nóng nảy”. Đức Chúa Trời đã không phán xét Israel chỉ với sự công bình thôi đâu. Ngài xét đoán Israel với lòng nhân từ, sự thương xót và tình yêu thương nữa.

Bậc thánh hiền dạy rằng chúng ta, là những người được dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời, có bổn phận phải bắt chước Đức Chúa Trời. Họ dạy: "Giống như Đức Chúa Trời giàu lòng xót thương và nhân từ, cũng một thể ấy, các ngươi phải có lòng thương xót và sự nhân từ". Giống Đức Chúa Trời xét doán chúng ta với tình yêu thương và sự thương xót, cũng một thể ấy, chúng ta phải tỏ ra cùng một lượng ân điển, nhân từ, và sự thương xót cho mọi người mà chúng ta gặp gỡ.

Cần phải nói rằng chúng ta nên đối xử tha nhân với sự tử tế hơn cần thiết vì ai nấy đang chiến đấu cùng một loại chiến trận. Khi chúng ta gặp gỡ người khác, đôi khi trong một cách thức rất khó chịu, có phải chúng ta đánh giá họ với sự khắc nghiệt và công lý mù quáng chăng? Hoặc chúng ta có thể nhìn xem họ bằng ánh mắt nhân từ và hiểu biết không? Có phải chúng ta có thể nhìn qua mọi điều là sai trái với một người để nhìn thấy vẻ đẹp của linh hồn thiêng liêng của họ không?

Bậc thánh hiền dạy rằng Đức Chúa Trời đối xử với chúng ta y như chúng ta đối xử với người khác. Vì vậy, chúng ta hãy tử tế hơn cần thiết, rồi khi ấy Đức Chúa Trời sẽ yêu thương và thương xót y như thế với chúng ta.


Thứ Năm, 19 tháng 11, 2015

THỨC ĂN CHO LINH HỒN


Thức Ăn Cho Linh Hồn
“tới một chỗ kia, mặt trời đã khuất, thì qua đêm tại đó. Người lấy một hòn đá làm gối đầu, và nằm ngủ tại đó” — Sáng thế ký 28:11

Bạn dùng mấy bữa ăn cho một ngày vậy? Hầu hết các chuyên gia dinh dưỡng khuyên bạn nên dùng ba bữa ăn một ngày - bữa sáng, bữa trưa và bữa tối. Trong Do thái giáo, bậc thánh hiền Do Thái khuyên ba buổi cầu nguyện mỗi ngày - shacharit (cầu nguyện ban sáng), mincha (cầu nguyện ban chiều), và ma'ariv (cầu nguyện ban tối). Giống như thực phẩm là cần cho cơ thể, cầu nguyện rất cần cho linh hồn.

Bậc thánh hiền dạy rằng mỗi lần cầu nguyện như vầy đã được thực hành bởi một trong ba vị tộc trưởng - Ápraham, Ysác và Giacốp. Họ giải thích thêm, rằng mỗi lần cầu nguyện nói tới một thời điểm khác nhau trong ngày và trong đời sống của chúng ta, và mỗi lần đó phản ánh một đặc trưng của vị tộc trưởng nào khởi xướng nó.


Thí dụ, lần cầu nguyện ban sáng, được thiết lập bởi Ápraham, có thể bắt nguồn từ Sáng thế ký 19:27: "Áp-ra-ham dậy sớm, đi đến nơi mà người đã đứng chầu Đức Giê-hô-va". Cầu nguyện ban sáng tiêu biểu cho các thời điểm có ánh nắng và sáng láng trong đời sống của chúng ta. Chúng ta rất biết ơn vì những gì chúng ta có và hy vọng cho những gì tương lai sẽ đem đến. Chúng ta được sử dụng để xây sang Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện khi mọi thứ dường như ảm đạm, nhưng Ápraham dạy cho chúng ta biết phải cầu nguyện với Đức Chúa Trời khi cuộc sống đang hồi suông sẻ.

Lần cầu nguyện ban chiều có nguồn gốc của nó trong đời sống của Ysác: "lối chiều, người đi ra ngoài đồng đặng suy ngẫm; nhướng mắt lên, kìa ngó thấy lạc đà đâu đi đến" (Sáng thế ký 24:63). Buổi chiều là thời gian bận rộn khi chúng ta thường ở "ngoài đồng" - ở ngoài thế gian, lo làm đủ thứ công việc khác nhau của chúng ta. Tuy nhiên, Ysác, vị tộc trưởng tiêu biểu cho sức mạnh nội tâm, dạy cho chúng ta biết rằng chúng ta phải mạnh mẽ và ngắt kết nối với thế gian trong một vài phút để trao đổi với Chúa trong khi chúng ta đang ở "ngoài đồng". Chúng ta đừng quá bận rộn đến nỗi không thể cầu nguyện, chỉ nên quá bận rộn đến nỗi không thể không cầu nguyện. Một vài lời với Đức Chúa Trời đi một chặng đường dài khi chúng ta đang quá bận bịu với nhiều thứ.

Sau cùng, trong phần đọc kinh Torah tuần này, Giacốp giới thiệu với chúng ta lần cầu nguyện ban tối: "tới một chỗ kia, mặt trời đã khuất" (Sáng thế ký 28:11). Bậc thánh hiền dạy rằng ý nghĩa tiềm ẩn của câu này là Giacốp đã cầu nguyện tại "một chỗ kia", là nơi mà về sau ông khám phá ra là bối cảnh thiêng liêng của núi Môria, vì "mặt trời đã khuất". Trời đã vào đêm, thời điểm tối tăm và bất ổn. Giacốp, vị tộc trưởng đã trải qua những sự nhọc nhằn và bất ổn nhất trong cuộc sống của mình, nêu gương cho chúng ta cầu nguyện trong các thời khắc đen tối nhất trong cuộc sống.

Ba vị tộc trưởng nầy hiệp lại dạy cho chúng ta biết rằng từng thời điểm và từng cơ hội, đều có một sự cầu nguyện. Cho dù bạn có cầu nguyện ba lần một ngày hay không, ý tưởng là phải cầu nguyện với Đức Chúa Trời trong suốt cả ngày, trong mọi loại tình huống. Đức Chúa Trời luôn luôn lắng nghe và sẵn sàng đáp trả cho những lời cầu nguyện của chúng ta - ban sáng, ban trưa, và ban tối.


Thứ Tư, 18 tháng 11, 2015

TỪ LÒNG ĐẾN LÒNG


Từ Lòng Đến Lòng
Mặt dọi mặt trong nước thế nào, lòng người đối với người cũng thế ấy — Châm ngôn 27:19

Có lần kia, người ta hỏi vị hiền triết Do Thái làm thế nào ông trở thành nhà lãnh đạo vĩ đại nhất của thế hệ mình. Người hỏi trông mong câu trả lời sẽ bao gồm những đặc điểm và khả năng quan trọng nhất minh chứng ông là siêu việt hơn bất cứ ai khác. Tuy nhiên, người khôn ngoan đã đáp trả đáng kinh ngạc: "Tôi chưa hề gặp người nào không cứ cách nào đó tốt hơn tôi".

Trong kinh Talmud, thắc mắc được đưa ra là: "Ai là khôn ngoan?" Đáp: "Người học hỏi từ mọi người". Nhà hiền triết, là nhân vật đã trở thành nhà lãnh đạo xuất sắc của thế hệ của ông đã không làm như vậy bằng cách tôn vinh sự khôn ngoan của riêng mình, mà bằng cách tôn vinh và học hỏi từ sự khôn ngoan của nhiều người khác.

Khiêm nhường là chìa khóa cho sự hiểu biết - và nó cũng là chìa khóa để chia sẻ sự hiểu biết đó.

Các rabi cung ứng phần loại suy tương tự. Khi một người đứng bên cạnh một vũng nước, nó phản ánh hình ảnh được mở rộng của ông. Khi ông đã di chuyển cách xa ra khỏi đó, hình ảnh của ông bị co lại. Khi một người đến áp má mình vào mặt nước, cả thân hình và hình ảnh của người ấy giống hệt nhau.

Cũng thực y như thế giữa hai con người. Nếu người nầy tự phóng đại mình và phát biểu từ một chỗ của sự kiêu căng, người kia sẽ cảm nhận được điều này và làm theo tương tự. Tuy nhiên, nếu người nầy hạ mình xuống, thì người bạn kia sẽ làm theo y như thế. Khi cả hai đều khiêm tốn nhất có thể, họ sẽ trở nên y như nhau. Vì Kinh Thánh chép trong Châm ngôn: Mặt dọi mặt trong nước thế nào, lòng người đối với người cũng thế ấy. Giống như nước phản ánh con người, tấm lòng của chúng ta được phản ảnh trong tấm lòng của người khác.

Khi một người biết khiêm nhường, người ấy [nam hay nữ] khích lệ người khác nhìn thấy và cũng biết khiêm tốn nữa. Điều này tạo ra việc chuyển tải tư tưởng từ người này sang người kia hầu cho người nầy có thể học hỏi từ người kia mà không có kiêu ngạo trong cách ứng xử.

Theo truyền khẩu Do Thái, trong đời sau người kia được hỏi: "Có phải ông coi bạn bè ông trên ông không?" Nói cách khác, có phải chúng ta đủ khiêm tốn để học hỏi từ những người khác không? Có phải chúng ta đánh giá sự khôn ngoan hơn tiếng tăm và địa vị không? Có phải chúng ta trân trọng từng người một không?

Đây là những thắc mắc mà chúng ta nên tự hỏi mình hôm nay nếu chúng ta muốn trở nên khôn ngoan hơn trong tương lai. Chúng ta có thể sử dụng đời sống mình tập trung duy nhất vào bản thân mình, và chúng ta có khả năng cải thiện bản thân mình một chút. Tuy nhiên, khi chúng ta mở lòng hướng đến sự khôn ngoan và tri thức thiêng liêng mà Đức Chúa Trời đã đặt trong mỗi một con người, chúng ta có thể lớn lên theo cấp số nhân trong sự khôn ngoan và tri thức của chúng ta.

Lần tới, bạn trao đổi với bất cứ ai, hãy hạ tấm lòng mình xuống rồi thốt ra từ tấm lòng. Như chúng ta nói trong Do Thái giáo: "Lời lẽ phát ra từ tấm lòng đi thẳng vào tấm lòng".