Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2015

CẢM TẠ CHÚA TỪNG NGÀY MỘT


Cảm Tạ Chúa Từng Ngày Một
Đáng ngợi khen Chúa thay, là Đấng hằng ngày gánh gánh nặng của chúng tôi, tức là Đức Chúa Trời, sự cứu rỗi của chúng tôi — Thi thiên 68:19

Trong Do thái giáo, những phước hạnh chúng ta nói về đồ ăn là các ơn phước rất là đặc biệt. Thí dụ, có một ơn phước được ấn định cho trái cây và một ơn phước hoàn toàn khác biệt nói tới rau cỏ. Có một ơn phước rất đặc biệt nói tới các sản phẩm về nho như sinh tố hay rượu, và ơn phước khác nói tới bánh ăn. Như vậy, có một ơn phước phân biệt nói tới bánh ngọt, cùng các sản phẩm khác làm bằng bột hơn là cơm gạo. Và sau cùng, có một ơn phước nói tới mọi sự khác, bao gồm hết các thứ đồ ăn nếu người ta không dám chắc phước hạnh nói tới điều gì.

Tại sao hệ thống ơn phước của người Do thái lại phức tạp như thế chứ? Người ta có thể đề nghị rằng chúng ta nên kể ra phước hạnh sau cùng bao gồm hết các thứ đồ ăn rồi để nó lại đó. Tại sao chúng ta cần nhiều loại ơn phước như thế về đồ ăn chứ?

Câu trả lời là vì mỗi loại đồ ăn chứa các yếu tố khác nhau mà vì cớ đó chúng ta phải biết ơn. Khi tôi biết ơn vì trái táo ngọt ngào, đây cũng là một kinh nghiệm về một vị giác rất khác biệt hơn kinh nghiệm xảy đến với sự ngợi khen Đức Chúa Trời vì một ổ bánh mới. Khi thoả mãn với một cái bánh sôcôla và cắn một miếng cà rốt, cả hai kinh nghiệm nầy đều đáng phải dâng lời cảm tạ, song chúng rất là khác nhau. Dâng lên sự biết ơn là thể hiện sự nhận biết và là một sự nhắc nhớ rằng chúng ta cần phải nhạy bén trong mọi phương thức khác nhau để thấy rằng Đức Chúa Trời đã chúc phước cho chúng ta.

Với sự hiểu biết đó, chúng ta hãy nhìn vào câu 19 của Thi thiên 68. Câu nầy đọc như sau: Đáng ngợi khen Chúa thay, là Đấng hằng ngày gánh gánh nặng của chúng tôi”. Tuy nhiên, để thưởng thức sự dạy của người Do thái về câu Kinh thánh nầy, chúng ta cần phải nhìn vào phần diễn dịch của câu nầy: “Chúa phước hạnh thay, từng ngày một. Ngài tiếp trợ cho chúng ta, Đức Chúa Trời là Đấng giải cứu chúng ta luôn luôn”.

Bậc thánh hiền của người Do thái giải thích câu nầy dạy chúng ta biết rằng thái độ biết ơn của hôm nay phải khác biệt với thái độ biết ơn của ngày hôm qua. Sự ngợi khen của ngày mai sẽ phải khác biệt với sự ngợi khen của ngày hôm nay. Giống như mỗi thứ thức ăn đều có yếu tố đặc biệt của riêng nó mà vì đó chúng ta tỏ lòng biết ơn, cũng vậy, mỗi ngày đều có điều chi đó khác biệt mà chúng ta phải dâng lên lời cảm tạ. Chúng ta cần phải chúc phước cho Đức Chúa Trời “từng ngày một” vì mỗi ngày đều đem đến một ơn phước mới.

Trong Ca thương 3:22–23, chúng ta đọc: Ấy là nhờ sự nhân từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt. Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm”. Đúng là một tư tưởng thật là tuyệt vời! Đức Chúa Trời ban bố cho chúng ta với những ơn phước mới mỗi buổi sáng, và vì thế chúng ta phải dâng lời cảm tạ mới mẻ cho từng ngày một mới phải.

Bất luận đời sống của bạn xấu tốt lúc bây giờ như thế nào đi nữa, luôn luôn có điều chi đó đáng phải dâng lời cảm tạ. Đức Chúa Trời sẽ ban cho bạn một món quà mỗi ngày; bạn chỉ cần nhìn xem nó. Một khi bạn đã khám phá ra món quà ấy, hãy vui vẻ và ngợi khen Đức Chúa Trời vì cớ món quà ấy!


Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

CON DẤU


Con Dấu
Phần ngươi, hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nhất là các ngươi hãy giữ ngày sa-bát ta, vì là một dấu giữa ta và các ngươi, trải qua mọi đời, để thiên hạ biết rằng ta, là Đức Giê-hô-va, làm cho các ngươi nên thánh — Xuất Êdíptô ký 31:13

Có một cửa hàng gần nhà tôi trong thành Jerusalem mà tôi hay lui tới. Một buổi chiều kia, tôi bước  tới gần thì thấy cửa hàng đã đóng cửa rồi. Mấy ngọn đèn đã tắt hết, và tôi không thể nhìn thấy có ai ở bên trong hay không!?! Tôi hình dung rằng mình đã đến quá trễ và cửa hàng đã đóng cửa khi hết ngày. Qua ngày sau, tôi trở lại cửa hàng vào giữa trưa chỉ để thấy một tấm biển nhỏ gắn trên cửa: “Đóng Cửa Rồi”. Sự việc dường như kỳ lạ vào giờ ấy ban ngày. Mấy ngày sau, tấm biển đã được lấy xuống, và khi ấy tôi nhận biết điều chi đã diễn ra: Cửa hàng đã đóng cửa để chờ nhập hàng.

Tại sao tôi lại chia sẻ câu chuyện nầy với bạn chứ? Vì trong phần đọc Ngũ Kinh tuần nầy, Đức Chúa Trời dặn chúng ta phải giữ ngày Sa-bát của Ngài. Phải chú ý cách nói mà Ngài sử dụng: “Các ngươi hãy giữ ngày Sa-bát ta, vì là một dấu giữa ta và các ngươi, trải qua mọi đời…”. Ngày Sa-bát là một dấu hiệu – giống như tấm biển trên cửa hàng vậy. Bao lâu chúng ta tuân giữ ngày Sa-bát, đó là một dấu chúng ta đang mở ra — mở ra với Đức Chúa Trời, mở ra cho sự cải thiện, mởi ra cho một đời sống về mặt thuộc linh và một đời sống đóng góp. Mặc dù chúng ta sa ngã trong tội lỗi suốt cả tuần lễ, giữ ngày Sa-bát là một dấu cho thấy rằng chúng ta vẫn phục theo Đức Chúa Trời. Khi chúng ta không còn công nhận ngày Sa-bát nữa, sự việc giống như chúng ta đã dời tấm biển đi và đóng cửa tiệm lại.

Hãy chú ý, mạng lịnh phải giữ ngày Sa-bát nầy chỉ có mấy câu theo sau một câu nói như sau:Ta cũng đã ban sự thông minh cho mọi người tài năng, hầu cho họ làm các việc ta đã phán dặn ngươi (31:6). Trong câu nầy, Đức Chúa Trời đang nói cho chúng ta biết rằng chính Ngài là Đấng ban cho chúng ta khả năng  và kỹ năng làm được mọi việc mà chúng ta đang làm. Mục đích của ngày Sa-bát – phải nghỉ công việc mà chúng ta thường làm – là để công nhận rằng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá Chí Cao. Ngài là sức mạnh ở đàng sau mọi sự mà chúng ta đang thiết dựng, và nếu không có Ngài, chúng ta chẳng thể làm được chi hết. Như Kinh thánh đã chép, tuân giữ ngày Sa-bát để thiên hạ biết rằng ta, là Đức Giê-hô-va, làm cho các ngươi nên thánh. Đức Chúa Trời là Đấng khiến cho chúng ta có kỹ năng và nên thánh. Ngoài việc ấy ra, chúng ta chẳng có chi hết.

Chúng ta đang sống trong một thế hệ mà ở đó chẳng hề có một nhu cần lớn lao nào quan trọng hơn về ngày Sa-bát. Chúng ta cần một ngày trong một tuần để rút phích cắm ra khỏi sự nhọc nhằn hàng ngày rồi cắm vào Đức Chúa Trời. Bất luận điều chi xảy ra trong 6 ngày thường kia, hãy lấy một ngày rồi dâng ngày ấy cho Đức Chúa Trời là con dấu mà chúng ta vẫn còn mở ra – mở ra cho mối quan hệ đầy ý nghĩa với Đấng Tạo Hoá của chúng ta.


CHIA SẺ TIN LÀNH



Chia Sẻ Tin Lành
“Bấy giờ, họ bèn nói với nhau rằng: Chúng ta làm chẳng phải; ngày nay là ngày có tin lành, và chúng ta nín lặng sao! Nếu chúng ta đợi đến rạng đông, thì sự hình phạt chắc sẽ lâm vào chúng ta. Vậy, ta hãy đi báo tin này cho nhà vua — II Các Vua 7:9

Trong phân đoạn Kinh thánh tuần nầy, chúng ta đọc câu chuyện nói tới ơn cứu rỗi đã đến qua 4 người phung – những người mắc phải cùng một chứng bịnh về mặt thuộc linh được nhắc tới trong phần đọc Kinh thánh hôm nay. Những câu đi trước phần đọc hôm nay cho chúng ta biết rằng đã có một cuộc bao vây tại thành Samaria, một khu vực của Israel, nhà vua và hầu hết dân sự đều sinh sống tại đó. Dân chúng đã bị đói cho đến chết. Tiên tri Êlisê đã đưa ra một lời tuyên bố rằng trong vòng 24 giờ, nạn đói nghiệt ngã kia sẽ kết thúc.

Đây là chỗ mà phần đọc Kinh thánh của chúng ta nhắm tới. Phân đoạn ấy cho chúng ta biết rằng đã có 4 người phung, họ đã được sai ra khỏi thành phố. Họ đã sống trong một tình huống rất hiểm nghèo hơn phần còn lại của xứ sở. Trong hoàn cảnh của họ, nếu không có một sự tiếp trợ nào hết, họ nhận ra rằng chắc sẽ không bao lâu nữa, họ sẽ gục chết. Họ quyết định liều một chuyến. Không cứ cách nào đó thì họ cũng sẽ chết mất đó thôi, họ bèn quyết định liều đầu hàng người Aram, là kẻ thù của Israel, họ đang vây lấy thành.

Bốn người phung ra khỏi thành lúc hoàng hôn; tuy nhiên, khi họ đến tại trại quân của người Aram, họ thấy trại bị bỏ hoang hoàn toàn ở đó! Họ đã không nhận biết đấy thôi, Đức Chúa Trời đã khiến một phép lạ bằng cách tạo một tiếng ồn lớn, nó thuyết phục quân Aram tin rằng Israel đã đưa các đồng minh đến hướng về họ với một quân số thật là đông đảo. Mấy người phung không biết lý do tại sao trại quân bị bỏ hoang trong một phương thức vội vã như thế, họ bỏ hết mọi sự lại sau lưng; mọi sự họ biết, ấy là họ sẽ bị đánh tan hoang.

Lúc đầu, mấy người phung khởi sự thu thập của cải cho chính họ – bạc, vàng, quần áo, và thực phẩm. Nhưng rồi, họ nhóm lại với nhau rồi nói: “Bấy giờ, họ bèn nói với nhau rằng: Chúng ta làm chẳng phải; ngày nay là ngày có tin lành, và chúng ta nín lặng sao! Nếu chúng ta đợi đến rạng đông, thì sự hình phạt chắc sẽ lâm vào chúng ta”. Mấy người phung đã công nhận rằng giữ lấy những tin tức tốt lành cho bản thân họ là một điều rất sai quấy. Những tin tức đem lại sự cứu lấy mạng sống của  họ phải được chia sẻ ngay lập tức.


Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới mà hầu hết người ta không bị đói khát theo phần thuộc thể, song có nhiều người chắc chắn đang thiếu thốn sự dinh dưỡng thuộc linh và sự cảm thúc tích cực. Bậc thánh hiền người Do thái dạy rằng người nào đưa ra một báo cáo gian ác, họ sẽ bị hình phạt và kẻ nào có một lời lành phải nói ra, song cứ giữ lời ấy lại cũng đáng bị hình phạt nữa. Khi chúng ta có điều tốt lành phải nói ra – nguyện lời ấy là những tin tức tốt lành, một lời nói cảm thúc, một lời khen ngợi, hoặc một lời nói khích lệ – chúng ta phải nói ra lời ấy ngay lập tức. Ngay cả chậm trễ mấy giờ đồng hồ cũng là quá trễ cho kẻ nào đã ở trong chỗ thất vọng sâu sắc hoặc thiếu thốn về mặt thuộc linh. Vì vậy, lần tới khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta ơn có được những tin tức tốt lành, nguyện chúng ta nên chia sẻ điều đó ra – không chậm trễ.

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

TÌM KIẾM ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ ĐƯỢC PHƯỚC


Tìm Kiếm Đức Chúa Trời và Được Phước
Nguyện hết thảy người nào tìm cầu Chúa, được mừng rỡ vui vẻ nơi Chúa; Nguyện những kẻ yêu mến sự cứu rỗi của Chúa Hằng nói rằng: Đáng tôn Đức Chúa Trời oai nghi thay! — Thi thiên 70:4

Trong tất cả các sách kể cả kinh Torah, có vô số những sách khác đã được kể đến. Một số lời nói tiên tri của những vì tiên tri được kể đến trong Kinh thánh, nhiều lời tiên tri khác đã không được chép vào đấy. Thí dụ, sách Ápđia là một chương thật dài. Có phải bạn nghĩ rằng Ápđia chỉ nói tiên tri có một chương trọn cả đời sống của ông chăng? Không! Dù vậy, đấy là chương duy nhứt đã được ghi chép lại. Tại sao chứ? Vì trong mọi việc kỳ diệu đã được loan báo trước khoảng hơn mấy ngàn năm, chỉ có những lời lẽ được kinh điển hoá trong kinh Torah là những lời lẽ có liên quan đời đời với mỗi và từng thế hệ.

Với nền tảng ấy, chúng ta hãy nhìn vào câu Kinh thánh nầy từ Thi thiên 70: “Nguyện hết thảy người nào tìm cầu Chúa, được mừng rỡ vui vẻ nơi Chúa”. Vua David công bố rằng “hết thảy” – từng người một trong mọi thời đại – người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời sẽ được ban thưởng với sự mừng rỡ và vui vẻ nơi Ngài. Không những là một vài người, không chỉ là hạng người công nghĩa trọn vẹn, mà là hết thảy mọi người. Mấy lời nầy thì rất thích đáng với hôm nay cũng như chúng thích đáng khi David lần đầu tiên viết chúng ra cách đây bao ngàn năm. Hãy hình dung đi, bạn đang đứng trước mặt David hôm nay, và ông đưa ra lời hứa nầy cách riêng tư với bạn: “Hãy tìm kiếm Đức Chúa Trời thì bạn sẽ được phước”. Làm sao khoác được mùa xuân vào trong các bước chân của bạn chứ?

Thực sự việc ấy rất đơn giản. Tuy nhiên, có nhiều người gặp khó khăn không biết cách thức tìm kiếm Đức Chúa Trời. Tìm kiếm Đức Chúa Trời có nghĩa gì chứ? Trong I Sử ký 22:19, chúng ta đọc: Vậy bây giờ, hãy hết lòng hết ý tìm cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi”. Tìm kiếm Đức Chúa Trời có nghĩa là dâng tấm lòng và linh hồn của bạn vào việc tìm kiếm Ngài trong từng tình huống, trong từng phút một, trong từng ngày.
Tìm kiếm Đức Chúa Trời có nghĩa là hãy bước ra ngoài, nhìn ngắm cõi thiên nhiên và tìm kiếm Đấng Tạo Hoá. Cái nhìn ngắm đó ý nói nhìn vào con cái xinh đẹp hay loài thú tốt tươi rồi tìm kiếm Đức Chúa Trời, là Đấng Dựng Nên chúng. Tìm kiếm Đức Chúa Trời cũng có ý nói rằng lúc bạn nhìn thấy bản thân mình trong khi đối đầu khó chịu ở sở làm cũng như trong gia đình, chúng ta cần phải nhìn qua bên kia mọi hoàn cảnh rồi nhìn thấy cách thức Đức Chúa Trời đang vận dụng tình huống vì điều tốt đẹp nhất cho chúng ta. Đúng là rất mừng rỡ vui vẻ khi nhận biết rằng ngay cả những khoảnh khắc trăn trở nhất đều đến từ Đức Chúa Trời vì sự ích cho!

Tìm kiếm Đức Chúa Trời theo cách chắc chắn nhất bao gồm việc học hỏi Lời của Ngài và nắm bắt các sứ điệp của Ngài. Điều nầy có nghĩa là kêu cầu với Đức Chúa Trời trong sự cầu xin , khẫn nguyện. Khi  chúng ta để lòng vào việc tìm kiếm Đức Chúa Trời, chúng ta có thể tìm gặp Ngài trong mọi sự chúng ta làm, và với suy nghĩ ấy, David hứa sự mừng rỡ vui vẻ.

Bạn tìm kiếm Đức Chúa Trời như thế nào hôm nay? Hãy giữ Đức Chúa Trời ở vị trí thứ nhứt trong nhận thức của bạn và hãy chú ý bạn được đầy dẫy sự mừng rỡ vui vẻ thể nào khi bạn công nhận rằng Đức Chúa Trời đang hiện diện ở khắp mọi nơi khi chúng ta tìm kiếm Ngài.


Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

DẦU TRONG LÚC TUỔI GIÀ


Dầu Trong Lúc Tuổi Già
Xin Chúa chớ từ bỏ tôi trong thì già cả; Cũng đừng lìa khỏi tôi khi sức tôi hao mòn — Thi thiên 71:9

Theo truyền khẩu của người Do thái, Thi thiên 71 do David sáng tác trong khi có sự nổi loạn do con trai ông là Ápsalôm cầm đầu. Trong khi David còn trẻ tuổi, lúc Vua Saulơ thường xuyên truy kích ông, David đã được nâng đỡ bởi lời hứa cho rằng một ngày kia ông sẽ lên ngôi làm Vua rồi sống hết đời mình. Tuy nhiên, lần nầy David đã được 65  tuổi rồi. Thời tuổi trẻ của ông đã ở sau lưng và tuổi già đang ở trước mặt ông. Ông lo rằng chiến trận nầy có thể là trận chiến sau cùng và nó sẽ là phần kết cho cuộc đời của ông. Trong Thi thiên nầy, David đã kêu la cùng Đức Chúa Trời: Xin Chúa chớ từ bỏ tôi trong thì già cả; Cũng đừng lìa khỏi tôi khi sức tôi hao mòn”.

Bậc thánh hiền Do thái chú vào cuộc trò chuyện mà David đã có với Đức Chúa Trời trong suốt thời gian loạn lạc nầy. Theo bậc thánh hiền, David đã thưa với Đức Chúa Trời: “Khi tôi còn trẻ và mạnh sức, tôi đã đặt mạng sống tôi vào chỗ hiểm nguy để dẫn dắt con cái của Ngài, con cái Israel vào trong chiến trận. Song giờ đây, tôi đã cao tuổi rồi, họ chẳng còn xem trọng tôi, và họ nói: Nó sẽ chết chừng nào? Danh nó sẽ diệt khi nào? (Thi thiên 41:5). Đức Chúa Trời đã đáp trả với lời lẽ của tiên tri Êsai: “Cho đến chừng các ngươi già cả, đầu râu tóc bạc, ta cũng sẽ bồng-ẵm các ngươi. Ta đã làm ra, thì sẽ còn gánh vác các ngươi nữa. Ta sẽ bồng ẵm và giải cứu các ngươi (Êsai 46:4). Và quả thực vậy, Đức Chúa Trời đã làm y như thế. David đã đắc thắng rồi trở về thành Jerusalem làm Vua của Israel.

Lời lẽ thành khẩn của David trong Thi thiên nầy, cầu xin Đức Chúa Trời ở cùng ông trong lúc tuổi già, đã có ý nghĩa rất đặc biệt cho hết thảy những ai may mắn đủ để khiến tuổi ấy trở thành “tuổi vàng son” của mình. Thật là phước hạnh khi sống một cuộc sống vào lúc cao tuổi, song đấy chẳng phải là một sự tồn tại mà chúng ta mong nhắm tới đâu; chúng ta mong muốn cuộc sống với các mối quan hệ và những kinh nghiệm đầy ý nghĩa, khả năng đóng góp, và sự bình an khi mọi nhu cần của chúng ta đều được thoả. Thường thì tuổi già là thời điểm dễ bị tổn thương và là nguồn lo sợ cho nhiều người. Câu Kinh thánh nầy và Thi thiên nầy góp phần như một thứ dầu chữa lành tái bảo đảm cho chúng ta rằng Đức Chúa Trời sẽ ở cùng chúng ta ngay cả những năm tháng sau cùng của chúng ta. Chúng ta không cần phải lo sợ vì Ngài sẽ ở cùng chúng ta.

Bậc thánh hiền dạy rằng câu Kinh thánh nầy cũng có thể áp dụng cho những thời điểm trong cuộc đời chúng ta khi chúng ta còn trẻ nữa. Có những lúc khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi, yếu sức, và thiếu sức sống. Giống như người già vẫn thấy trẻ trung ở trong lòng, cũng có hạng người hãy còn trẻ lại quá già yếu ở trong lòng. Đối với những thời khắc thể ấy, Thi thiên nầy là một bài cầu nguyện đem lại nhiều năng lực.


Chúng ta hãy lãnh lấy sự an ủi nơi lời lẽ của David và lời hứa của Đức Chúa Trời nơi Êsai. Nguyện Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta vào ngày đầu tiên và ngày cuối cùng của chúng ta – và mỗi ngày giữa đó nữa.

MỘT QUỐC GIA TÁI SINH


Một Quốc Gia Tái Sinh
Ai đã hề nghe một sự thể nầy? Ai đã hề thấy sự gì giống như vậy? Nước há dễ sanh ra trong một ngày, dân tộc há dễ sanh ra trong một chặp? Mà Si-ôn mới vừa nằm nôi, đã sanh con cái” — Êsai 66:8

Khi mặt trời mọc vào ngày 4 tháng Iyar Hybálai và ngày 5 tháng Iyar bắt đầu, dân tộc Do thái bước vào một sự thay đổi lớn. Than khóc đổi thành lễ hội; khóc than sự mất mát những người đã phó mạng sống họ cho xứ sở của chúng ta chuyển thành vui mừng với sự thực: chúng ta có một quốc gia. Yom HaZikaron, Ngày Tưởng Niệm của dân Israel, trở thành Yom HaAtzmaut, Ngày Lễ Độc Lập của người Do thái. Pháo bông nổ vang trên bầu trời khi chúng ta tưởng niệm phép lạ: ấy là Quốc Gia Do thái hiện nay.

Cách nay 67 năm, bối cảnh hoàn toàn rất quen thuộc Vào lúc 4 giờ chiều nhằm ngày 4 tháng Iyar, người Anh đã hạ cờ xuống trên khắp xứ, kết thúc gần hai thiên niên kỷ sự chiếm đóng của người nước ngoài. Ngay lập tức, dân Israel giương cao ngọn cờ của chính họ. Lá cờ, đã được thiết kế vào năm 1897 bởi Tổ Chức Siôn Đầu Tiên, là màu trắng, làm biểu tượng cho sự tươi mới và tinh sạch. Nó có hai lằn màu xanh, là màu trời, giống với chiếc khăn choàng cầu nguyện, tiêu biểu cho truyền thống của người Do thái. Ở phần trung tâm là Ngôi Sao David, gợi nhớ lại vị Vua đầu tiên của Israel cai trị từ thủ đô Jerusalem. Trong khi người Do thái buộc phải bị hất ra khỏi xứ sở của họ hàng ngàn năm trước đó, họ không bao giờ ngừng khao khát được về lại xứ sở, muốn có lại  xứ sở và phục hồi lại chủ quyền của họ. Sau cùng thì giấc mơ cũng đã trở thành một thực tại, dường như chỉ là qua một đêm thôi.

Hàng ngàn năm trước đó, tiên tri Êsai đã viết: “Ai đã hề nghe một sự thể nầy? Ai đã hề thấy sự gì giống như vậy? Nước há dễ sanh ra trong một ngày, dân tộc há dễ sanh ra trong một chặp?”Lời lẽ ấy dường như đã được ghi ra vào ngày 14 tháng 5 năm 1948, khi Israel tự tuyên bố mình là một quốc gia đã được độc lập một lần nữa. Lạ lùng thay, sau gần hai ngàn năm, lời tiên tri đã được ứng nghiệm và có nhiều lời tiên tri đã được phục hồi và dân Do thái đang trở về lại quê hương.

David Ben-Gurion, vị Thủ tướng đầu tiên, đã đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Sự độc lập qua đài phát thanh nhằm vào ngày thứ nhứt của ngày Sabát khi có nhiều người bật khóc vì vui sướng. Ông khởi sự như sau: “Xứ sở Israel là nơi dân Do thái chào đời. Đây là lại lịch thuộc linh, lai lịch tôn giáo, và lai lịch dân tộc đã được hình thành. Ở đây, họ đã đạt được tình trạng độc lập và đã dựng lên một xã hội có tầm quan trọng của quốc gia và của thế giới. Ở đây, họ đã viết ra và đã cung ứng Kinh thánh cho thế giới …“. Khi Ben-Gurion đọc xong bài tuyên ngôn, một lời chúc phước đã được đưa ra ngợi khen Đức Chúa Trời vì đã đưa chúng ta đến với ngày ấy, theo sau là bài quốc ca Do thái, Hatikvah, “Niềm Hy Vọng”.

Quí bạn ơi, khi chúng ta kỷ niệm sự độc lập của dân Israel hôm nay, chúng ta hãy mở mắt ra rồi nhìn xem phép lạ về sự độc lập đó. Chúng ta hãy ngợi khen Đức Chúa Trời vì mọi sự mà Ngài đã làm và bản thân tái cam kết thực hiện phần của mình trong việc thực hiện sự ứng nghiệm hoàn toàn từng lời tiên tri trong Kinh thánh và mỗi một lời hứa của Đức Chúa Trời.


Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

THẮNG HƠN BỔN TÁNH



Thắng Hơn Bổn Tánh
Song dân Y-sơ-ra-ên đi giữa biển như trên đất cạn; nước làm thành vách ngăn bên hữu và bên tả — Xuất Êdíptô ký 14:29
Hết thảy chúng ta chào đời với một bổn tánh thật là độc đáo. Muốn tốt hơn hay xấu đi, chúng ta phải có những khuynh hướng nhất định, cả về điểm mạnh và yếu điểm nữa. Thường thì chúng ta đạt được thành công nhất khi chúng ta hoạt động trong các lãnh vực mạnh của mình. Nhưng cũng có những lúc, khi chúng ta được kêu gọi phải thắng hơn những yếu điểm tự nhiên của mình là những thứ trì kéo chúng ta lại đối với cuộc sống mà chúng ta muốn sống. Đôi khi, chúng ta cần mạnh mẽ một chút thôi để chúng ta phải đi ngược lại với bổn tánh của mình hầu cho chúng ta cứ tấn tới trong đời sống của chúng ta.

Trong bầu không khí của câu chuyện Xuất Aicập, biển chia ra làm hai và dân Do thái đi qua biển như đi trên đất khô. Biển cả, theo bản chất thì gắn kết, tuôn chảy, và không có đường biên giới, đột nhiên cứng rắn giống như các bức tường: “Song dân Y-sơ-ra-ên đi giữa biển như trên đất cạn; nước làm thành vách ngăn bên hữu và bên tả”.

Bậc thánh hiền người Do thái đưa ra lời bình rất hay, là biển phải đi ngược lại với bản chất của nó vì cớ  hài cốt của Giôsép vốn hiện diện ở đó đang khi biển chia ra làm hai. Nếu bạn còn nhớ, Giôsép đã khiến dân Do thái phải hứa đưa hài cốt của ông ra khỏi Aicập khi họ rời khỏi đó, và họ đã thực hiện tốt phần hứa hẹn của mình. Trong Thi thiên 114:3, chúng ta đọc: Biển thấy sự ấy, bèn chạy trốn…”. Thế nhưng, biển thấy sự gì mới được chứ?

Theo truyền khẫu, đấy là hài cốt của Giôsép, và đó là một sự nhắc nhớ đầy năng quyền về một người đi ngược lại với chính bổn tánh của mình. Khi Giôsép còn là một thanh niên, người vợ xinh đẹp và nhiều quyền lực của chủ ông là Phôtipha, đã tìm cách quyến dụ ông. Tuy nhiên, Giôsép đã đi ngược lại với các khuynh hướng con người của mình, ông đã kháng cự sự cám dỗ, rồi bỏ chạy tránh vợ của Phôtipha. Trong chỗ tôn trọng ông, biển cả đã đi ngược lại với bản chất của nó rồi cũng chạy trốn nữa, tạo ra một con đường cho dân Do thái đến với sự tự do và được cứu chuộc.

Tôi đã nhìn xem câu chuyện nầy ở một mặt khác. Chúng ta biết rõ điều chi đã cảm thúc đại dương kia, còn ai đã cảm thúc Giôsép chứ? Có một câu trả lời, ấy là ông đã nhận câu trả lời đó từ mẹ ông là Rachên, bà đã đi ngược lại với bổn tánh riêng của mình đối với những gì xảy có trong đêm tân hôn của bà. Mặc dù Rachên vốn yêu mến sâu sắc đối với Giacốp và đã chờ đợi ròng rã 7 năm trời để thành hôn với ông, bà đã đi ngược lại với bổn tánh của mình và đã chịu để cho chị mình là Lêa đội lốt mình là Rachên và đã trở thành cô dâu của Giacốp. Rachên đã sống vô kỷ và đã chạy trốn đối với những ham muốn của riêng mình vì cớ hạnh phúc và sự đáng yêu của chị mình.


Trong mọi cảnh ngộ như thế nầy – Giôsép, Rachên, và biển cả – đi ngược lại với bản chất tạm thời, song cần thiết cách hoàn toàn. Tương tự, chúng ta được kêu gọi vào những thời điểm phải đi ngược lại với bản chất của mình vì một mục đích cao kỳ hơn. Chúng ta được khích lệ nhiều khi gom góp sức lực rồi chia tay với bản chất mình dù chỉ trong một phút thôi. Một phút tự hy sinh có thể dẫn tới ơn cứu rỗi trọn cả đời.