Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2015

LỜI NÓI NẮN ĐÚC THẾ GIỚI CỦA CHÚNG TA



Lời Nói Nắn Đúc Thế Giới Của Chúng Ta
 Nầy là luật lệ cho kẻ phung về ngày nó được sạch. Người ta sẽ dẫn người phung đến thầy tế lễ — Lêvi ký 14:2

Tuần nầy chúng ta đọc phân đoạn Ngũ kinh có hai phần, cả hai phần ấy xử lý với luật lệ liên quan tới một người mắc “bịnh ô uế về da”, thường được đề cập đến trong Anh ngữ là leprosy [bịnh phung]. Phần đọc thứ hai bắt đầu như sau: Nầy là luật lệ cho kẻ phung…”. Từ ngữ Hybálai nói tới “người mắc bệnh” ở trong câu là metzorah. Bậc thánh hiền Do thái cắt từ nầy ra thành hai chữ Hybálai: motzi rah, được dịch như sau: “Người nào đồn tiếng ác về người khác”. Theo bậc thánh hiền, nguyên nhân gốc của bịnh ô uế về da mà Kinh thánh để ra một lượng thời gian và vị trí đáng kể bàn tới là thày lay [ngồi lê đôi mách].

Để nhấn mạnh tính nghiêm trọng của việc sử dụng lời nói cho các ý định gian ác, bậc thánh hiền trưng dẫn từ sách Amốt: Thật, ấy là Ngài đã làm nên các núi và dựng nên gió. Ấy là Ngài làm cho người ta biết ý tưởng riêng của mình. . .” (4:13). Ở vế sau của câu nầy, bậc thánh hiền giải thích rằng trong giờ phán xét của từng người một, Đức Chúa Trời sẽ tỏ ra những lời nói chơi giữa người ta với nhau một khi chúng là những lời nói không xứng đáng. Không một câu nào bị bỏ qua hay quên mất đâu.

Tuy nhiên, đâu là sự nối kết giữa sứ điệp nói tới tầm quan trọng nơi lời nói của chúng ta và phần thứ nhứt của câu nói gợi lại cho biết Đức Chúa Trời đã dựng nên các núi và gió chứ?

Một người, khi cứ lo nói xấu, sẽ tưởng rằng lời lẽ của mình là vô hại. Chúng sẽ trôi đi và biến mất trong cơn gió. Lời lẽ của chúng ta giống như hơi thở mau qua; chẳng gây hại gì hết đâu. Tuy nhiên, trong câu Kinh thánh từ sách Ôsê, Đức Chúa Trời đã chỉ ra rằng trong khi Ngài dựng nên các ngọn núi lớn, Ngài cũng dựng nên ngọn gió trông dường mạnh mẽ kia.

Gió trông dường như vô thưởng vô phạt. Bạn không thể nhìn thấy hay chạm đến gió được. Có nhiều khi, dường như gió chẳng thấy đâu hết. Thế mà, khi ngọn gió mạnh thổi đến, nó có thể bào mòn thậm chí cả những ngọn núi to lớn nhất. Cũng một thể ấy, mặc dầu lời nói của chúng ta có thể chẳng ăn nhập gì hết, thực vậy, chúng vốn có quyền lực giống như một cơn gió thổi dữ đội kia. Lời lẽ của chúng ta có thể làm chao đảo kẻ mạnh sức và gây ra một lượng hủy diệt thật khủng khiếp lắm.

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhớ rằng có những ngọn gió có thể đưa một con chim bay lên thật cao. Đây là sức mạnh nâng một chiếc máy bay lên như một phép lạ cho chuyến bay của loài người. Một ngọn gió nhẹ vô tư vuốt ve khuôn mặt của bạn vào một ngày mùa xuân ấm áp và đem lại sự khuây khoả mát mẻ vào buổi trưa hè oi bức kia. Đó cũng là phương tiện bởi đó Đức Chúa Trời chia Biển Đỏ ra làm hai.


Tương tự, lời nói của chúng ta có thể nâng người ta lên. Chúng có thể yên ủi người khác và cung ứng một cái chạm yêu thương. Lời nói của chúng ta, khi được sử dụng thích đáng, có thể tạo ra nhiều phép lạ. Chúng ta hãy suy nghĩ đến sức mạnh của lời nói chúng ta hôm nay. Chúng ta không thể nhìn thấy hay chạm đến chúng, nhưng chúng là sức mạnh có thể nắn đúc thế giới của chúng ta, vì vậy hãy lựa chọn chúng cách khôn ngoan.

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015

MỘT NGÀY ĐỂ NHỚ



Một Ngày Để Nhớ
Hãy nhớ lại những ngày xưa; Suy xét những năm của các đời trước; Hãy hạch hỏi cha ngươi, người sẽ dạy cho. Cùng các trưởng lão, họ sẽ nói cho — Phục truyền luật lệ ký 32:7

Hôm nay là Ngày Tưởng Nhớ của Israel. Trong sách Phục truyền luật lệ ký, chúng ta đọc: Hãy nhớ lại những ngày xưa; Suy xét những năm của các đời trước; Hãy hạch hỏi cha ngươi, người sẽ dạy cho. Cùng các trưởng lão, họ sẽ nói cho. Ghi nhớ quá khứ luôn luôn là một giá trị nền tảng trong Do thái giáo. Từ Hybálai nói tới “nhớ” là zakor, và chính từ chữ nầy mà ngày nầy có được cái tên của nó: Yom HaZikaron, Ngày Tưởng Nhớ. Vào ngày nầy, chúng ta tưởng nhớ hết thảy những ai đã dâng mạng sống của họ trong khi thiết lập và bảo vệ Quốc Gia Do thái ngày nay.

Vào năm 1947, ngay sau khi Israel đã đạt được là phiếu của Liên Hiệp Quốc về một quốc gia Do thái, David Ben-Gurion, vị Thủ Tướng đầu tiên của Israel, đã thốt ra lời lẽ sâu sắc như sau: “Khi tôi về lại Jerusalem, tôi đã nhìn thấy thành phố hạnh phúc và vui mừng, nhảy múa trên các đường phố và một đoàn đông nhóm lại trong sân của toà nhà Cơ quan của người Do thái. Tôi nhìn nhận sự thực – niềm vui mừng ấy không phải là phần của tôi – không phải vì tôi đã không tán thưởng quyết định của Liên Hiệp Quốc, mà vì tôi biết những gì đang đứng đợi chúng tôi: chiến tranh với mọi kẻ thù trong các quốc gia Ảrập”.

Mấy lời nói sâu sắc nầy là sự thực. Trước khi giấc mơ về địa vị quốc gia có thể được công nhận, sẽ có nhiều chiến tranh, đổ máu, và nước mắt.

Cùng thời điểm ấy, Chaim Weizmann, vị Tổng Thống đầu tiên của Israel, đã đưa ra lời nhận xét tương tự mà về sau đã được nổi tiếng. Ông nói: “Quốc gia sẽ không được trao cho người Do thái trên cái đĩa bằng bạc đâu”. Ông cũng nhìn biết rằng sẽ có một cái giá phải trả cho địa vị quốc gia của người Do thái. Nắm bắt được mấy lời nầy, thi sĩ người Do thái là Natan Alterman đã viết ra một bài thơ thật hay, làm xao động cả tấm lòng có đề tựa là “Chiếc Đĩa Bạc”.

Trong bài thơ ấy, ông mô tả một đôi trẻ nam nữ, bẩn thỉu và kiệt sức vì chiến tranh. Khi chúng đến gần nhau, chúng hỏi: “Bạn là ai?” Chúng trả lời: “Chúng ta là chiếc đĩa bạc, trên đó quốc gia Do thái đã hình thành”. Vị thi sĩ kết luận: “Chúng sẽ nói thế rồi rơi trở lại trong bóng tối. Và phần còn lại sẽ được kể vào các chương lịch sử của Israel”.

Trong xứ Israel, Yom HaZikaron không phải là một ngày mua sắm hay nấu nướng. Đây là một ngày khi hầu hết các gia đình Do thái ngồi lại với nhau và tưởng niệm những thanh niên nam nữ kia, họ đã hy sinh mạng sống của họ để chúng ta có thể có một quê hương. Chúng ta tôn vinh những người nào đã trở thành cái “đĩa bạc”, trên đó quốc gia chúng ta đã được trao cho chúng ta. Chúng ta đem họ ra khỏi những cái bóng tối của quá khứ và thuật lại những câu chuyện của họ.


Dù bạn đang sống trong bất kỳ quốc gia nào, những cơ hội là ai đó đã gục chết để bạn có thể sống trong sự tự do và thịnh vượng. Chúng ta hãy dành thì giờ để tưởng nhớ và tôn vinh những người đã chịu chết vì sự tự do của chúng ta. Chúng ta hãy nguyện rằng không một sinh mạng nào khác cần phải hy sinh để bảo đảm sự tự do mà hết thảy chúng ta đáng được.

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015

LÚT ĐẦU



Lút Đầu
Đức Chúa Trời ôi! xin cứu tôi, Vì những nước đã thấu đến linh hồn tôi. Tôi lún trong bùn sâu, nơi không đụng cẳng; Tôi bị chìm trong nước sâu, dòng nước ngập tôi — Thi thiên 69:1–2

Vào ngày 15 tháng Giêng năm 2009, chuyến bay hàng không Mỹ 1549 thực hiện cuộc đáp khẫn cấp trên sông  Hudson của thành phố Nữu Ước sau khi bầy chim bay thẳng vào trong bộ máy của máy bay, khiến cho cả hai động cơ không còn hoạt động được nữa. Cuộc hạ cánh, trong đó chẳng mất một mạng nào, ai cũng biết là “Phép Lạ Trên Sông Hudson”.

Tuy nhiên, cuộc hạ cánh khẫn dường như suông sẻ từ phía trước của máy bay, một câu chuyện đáng sợ ở phía sau của máy bay, ở đó chịu lấy gánh nặng của cái chạm. Cái chạm mạnh mẽ ấy làm rách một lỗ hỗng ở thân dưới máy bay, khiến cho nước tràn vào bên trong. Tiếp viên Doreen Welsh, thành viên phi hành đoàn duy nhứt có mặt ở thân sau máy bay, đã mô tả tình huống chuyển từ xấu đến tồi tệ hơn. Sau khi nhận ra họ đã rơi xuống sông và không phải trên đường băng, Doreen đã nhận ra ngay nước đang tràn nhanh vào và người ta ở chung quanh cô đã bị sốc, không thể di chuyển và chắc máy bay sẽ bị chìm nhanh chóng.

Doreen mô tả nước lạnh bắt từ hông lên đến cổ của cô. Ở điểm nầy cô tin chắc cuộc sống mình sắp sửa đi đến chỗ kết thúc rồi. Cô chẳng có cách nào nhận biết ở phía trước máy bay không bị nước tràn vào và hy vọng đang có ở trước mặt. Thế rồi đột nhiên, khi các hành khách chuyển lên phía trước, Doreen liền nhận ra rằng cô rốt cuộc rồi sẽ sống, và quả thực cô đã sống.

Tôi nghĩ rằng những gì Doreen Welsh đã trải qua ở cấp độ thuộc thể, nhiều người trong chúng ta đang kinh nghiệm ở một cấp độ về thuộc linh, lý trí, hay cảm xúc. Như David đã viết ở Thi thiên 69: Đức Chúa Trời ôi! xin cứu tôi, Vì những nước đã thấu đến linh hồn tôi. Tôi lún trong bùn sâu, nơi không đụng cẳng; Tôi bị chìm trong nước sâu, dòng nước ngập tôi”. 

Đôi khi, cuộc sống có thể phủ lút đến nỗi chúng ta cảm thấy như mình đang bị nhấn chìm. Hoàn cảnh dường như khó thở và không bao lâu nữa thì nước sẽ phủ lút đầu của chúng ta, không còn nổi lên được nữa. Thế nhưng Thi thiên 69 nhắc cho chúng ta nhớ rằng vô luận hoàn cảnh có vô vọng dường nào, luôn luôn có hy vọng mình sẽ được cứu đấy.

Ở phần đầu của Thi thiên, David đã cầu xin rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu ông ra khỏi dòng nước đã đe doạ nhấn chìm ông. Đến cuối Thi thiên, David nhất định rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu vớt ông. Chúng ta đọc ở câu 30: Tôi sẽ dùng bài hát mà ngợi khen danh Đức Chúa Trời, và lấy sự cảm tạ mà tôn cao Ngài”.


Hãy nhớ, khi bạn cảm thấy như mình bị ngập chìm trong dòng nước quá lâu, hoặc dòng nước sẽ lên tới cổ của bạn, đe doạ nhấn chìm bạn, các phép lạ đang xảy ra. Hãy nắm lấy và bám chắc lấy Đức Chúa Trời. Đừng bao giờ buông ra cho đến khi được Ngài cứu vớt.

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

NGỢI KHEN KHI ĐỐI MẶT VỚI THẢM HOẠ



Ngợi Khen Khi Đối Mặt với Thảm Hoạ
“Môi-se và A-rôn bèn vào hội mạc, kế lại ra chúc phước cho dân sự; sự vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra cùng cả dân sự” — Lêvi ký 9:23

Trong một câu Kinh thánh nếu như được xem xét kỹ, thì thấy rằng Môise và Arôn bước vào hội mạc rồi khi họ bước ra, họ đã chúc phước cho dân sự. Thắc mắc là: điều chi đã xảy có trong hội mạc?

Nhà giải kinh Do thái với sự nghiên cứu rộng rãi là Rashi, từ nước Pháp vào thế kỷ thứ 11, đã giải thích rằng trong hội mạc Môise đã dạy cho Arôn biết “về sự dâng hương”. Tuy nhiên, bậc thánh hiền Do thái chưa thấy thoả mãn lắm với giải đáp nầy. Tại sao Môise không dạy cho Arôn biết các luật lệ của sự xông hương cùng một lúc với việc ông giải thích mọi nghi thức dâng các thứ của lễ khác?

Theo bậc thánh hiền, trong khi ở trong hội mạc Môise đã sửa soạn Arôn cho thảm kịch quan trọng sắp sửa xảy ra cho hai con trai của ông là Nađáp và Abihu, họ đã ngã chết ngay tức khắc vì đã dâng hương vào thời điểm khi họ không được kêu gọi phải làm công việc ấy. Đây là những gì Rashi muốn nói khi ông cho rằng Môise đã dạy cho Arôn “về sự dâng hương” – Môise đã dạy cho Arôn biết những điều ông sẽ cần phải biết để đối mặt với thảm kịch bằng đức tin và sự kiên cường.

Trong hội mạc Môise đã dạy cho Arôn phải ngợi khen Đức Chúa Trời khi bị buồn rầu áp bắt. Môise đã dạy cho Arôn biết rằng chúng ta phục vụ Đức Chúa Trời trong các thời điểm tốt và xấu. Ông đã dạy cho Arôn biết rằng chính Đức Chúa Trời là Đấng ban cho cũng là Đấng có quyền cất đi. Cách long trọng nhất để tôn vinh Ngài là phải ngợi khen dầu khi chúng ta đang bị tổn thương.

Đây là những gì đã khiến cho Arôn có khả năng phản ứng trước cái chết của hai con trai mình, chỉ mấy câu sau đó thôi, với sự tin kính thể ấy đối với Đức Chúa Trời. Chúng ta lùi lại kinh ngạc với ân điển và đức tin thể ấy, nhưng tôi muốn mọi người đều nhận biết rằng hạng người như Arôn hãy còn tồn tại hôm nay. Israel chẳng lạ lùng gì với thảm hoạ, và buồn thay, chỉ trong năm ngoái thôi đã có nhiều bậc phụ huynh đã rơi vào cảnh tang chế. Tuy nhiên, hãy lắng nghe một số người trong họ đã nói. Gần như là hầu hết, sau khi mất đi 7 đứa con trong một vụ cháy nhà, Gabriel Sassoon đã nói trong điếu văn của ông: “Đức Chúa Trời Toàn Năng đã cầm lấy 7 đoá hoa hồng. Ngài giữ lấy mấy đứa con của tôi và các cháu của tôi trong tương lai, có thể là 70 hay 80 người cả thảy, những nụ cười của chúng. Đối với Ngài là Đức Chúa Trời của tôi, tôi xin dâng hết thảy. Linh hồn tôi, mọi sự của tôi”.

Và Adva Biton, bà mẹ của Adele 4 tuổi, nó đã qua đời vì thương tích do bọn khủng bố gây ra, vẫn ngợi khen Đức Chúa Trời tại tang lễ: “Đấng Tạo Hoá của vũ trụ đã ban cho tôi một món quà tuyệt vời làm vinh dự cho dân sự Israel . . . Giờ đây Chủ Tể của Vũ Trụ đã đón nó về lại với Ngài”.


Đúng là sức lực! Đúng là đức tin! Tôi muốn khích lệ hết thảy chúng ta cần phải chuẩn bị sẵn để đối mặt với bất cứ điều chi Đức Chúa Trời đưa vào trong đường lối của chúng ta với sự trang trọng, ân điển, đức tin và tình yêu thương. Nếu những con người lạ lùng nầy vẫn cứ ngợi khen Đức Chúa Trời ở giữa đau khổ như vậy, chắc chắn chúng ta có thể ngợi khen Đức Chúa Trời bất chấp những bất tiện nhỏ nhoi mà chúng ta đang đối diện với trong thời của chúng ta.

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015

CHỈ SỐNG CHO ĐỨC CHÚA TRỜI



Chỉ Sống Cho Đức Chúa Trời
Đa-vít cũng trở về đặng chúc phước cho nhà mình; nhưng Mi-canh, con gái của Sau-lơ, đến đón người, mà nói rằng: Hôm nay vua Y-sơ-ra-ên được vinh hiển thay, mà ở trần trước mặt các con đòi của tôi tớ vua, làm như một kẻ không ra gì vậy!  Đa-vít đáp với Mi-canh rằng: Ấy tại trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đấng đã chọn lấy ta làm hơn cha nàng và cả nhà người, lập ta làm vua chúa Y-sơ-ra-ên, là dân của Đức Giê-hô-va; phải, trước mặt Đức Giê-hô-va, ta có hát múa”” — II Samuên 6:20–21

Trong phần đọc Kinh thánh tuần nầy, Hòm Giao Ước đã được đưa về thành Jerusalem trong một đám rước mà Kinh thánh mô tả một cách đặc biệt là rất tưng bừng náo nhiệt. Phải, Vua David được mô tả là “múa nhảy trước mặt Đức Giêhôva” (II Samuên 6:16). Trong nỗi kháo khao muốn chứng tỏ tình cảm của mình dành cho Đức Chúa Trời, David đã nhảy múa  không chút xấu hổ. Tuy nhiên, khi David trở về nhà, vợ ông là Micanh, con gái của cựu vương Saulơ, đã có đôi lời với ông.

Micanh đã đón chồng mình bằng cách mắng mỏ cách thể hiện của chàng: Hôm nay vua Y-sơ-ra-ên được vinh hiển thay, mà ở trần trước mặt các con đòi của tôi tớ vua, làm như một kẻ không ra gì vậy! Micanh là con gái của hoàng tộc. Nàng vốn ý thức về cách xử sự của một nhân vật thuộc hoàng gia — và nàng nhận thấy cách biểu hiện của David là hoàn toàn không xứng hợp.

Giờ đây, hãy nghe phần đáp ứng của David: “Ấy tại trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đấng đã chọn lấy ta làm hơn cha nàng và cả nhà người, lập ta làm vua chúa Y-sơ-ra-ên, là dân của Đức Giê-hô-va; phải, trước mặt Đức Giê-hô-va, ta có hát múa”. David chỉ ra rằng Đức Chúa Trời đã tước vương quốc ra khỏi tay Vua Saulơ và đã trao nước ấy cho ông. Nhưng Saulơ đã làm gì với sự kiện đặc biệt nầy? Tại sao lời đáp nầy của David phải có đối với sự chỉ trích của Micanh?

Có phải bạn nhớ tại sao Vua Saulơ đã bị Đức Chúa Trời chối bỏ không? Trong I Samuên 15 tiên tri Samuên đã đối diện với Vua Saulơ, ông đã được sai đi với một sứ mệnh phải tiêu diệt hoàn toàn xứ Amaléc gian ác kia, luôn cả các bầy gia súc của họ. Tuy nhiên, Saulơ đã để cho bầy gia súc được sống. Sau khi giải thích rõ sai trái của mình bằng cách nói rằng bầy gia súc ấy đã được tha để được dùng làm của lễ dâng cho Đức Chúa Trời, sau cùng thì Saulơ đã nhìn nhận tội lỗi của ông ta. Ông ta đã xưng tội trong câu 24: Tôi có phạm tội. Tôi đã can phạm mạng lịnh Đức Giê-hô-va, và lời của ông. Tôi sợ dân sự, nên nghe theo tiếng của họ”.
Sự việc hoàn toàn rất đơn giản; Saulơ vốn quan tâm nhiều về những gì dân sự nghĩ về ông hơn những điều Đức Chúa Trời sẽ nghĩ. Ông sợ người ta hơn là Đức Chúa Trời mình trong giây phút đó.
Giờ đây, chúng ta có thể hiểu lý do tại sao đây là đáp ứng của David đối với vợ của mình. Ông đã giải thích cho nàng biết rằng trong khi cha của nàng bị phế truất vì ông ấy quan tâm nhiều đến những gì dân sự suy nghĩ về ông ấy, còn David thì được thêm lên trong ánh mắt của Đức Chúa Trời khi gạt qua một bên những quan tâm đến cách mà người ta sẽ nhìn vào ông.


Đấy là một bài học rất tốt cho chúng ta. Khi đến cuối đời của chúng ta, chúng ta sẽ chỉ phải trả lời với Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy lập Ngài là quan sát viên chính cho đời sống chúng ta và hãy chỉ sống để làm đẹp lòng Ngài — vô luận người khác có nghĩ như thế nào đi nữa. Sống như thế mới đáng gọi là sống ngay thẳng – và sống như thế mới xứng đáng với con cái hoàng tộc của Đức Chúa Trời.

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

CHÚNG TA SỐNG TỰ DO NHƯ THẾ NÀO?


Chúng Ta Sống Tự Do Như Thế Nào?
Vậy nên, ngươi hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Ta là Đức Giê-hô-va sẽ rút các ngươi khỏi gánh nặng mà người Ê-díp-tô đã gán cho, cùng giải thoát khỏi vòng tôi mọi; ta sẽ giơ thẳng tay ra, dùng sự đoán phạt nặng mà chuộc các ngươi” — Xuất Êdíptô ký 6:6

Lễ Vượt Qua cũng được biết là ngày lễ của sự tự do. Chúng ta kỷ niệm sự thực Đức Chúa Trời buông tha cho con cái Israel được tự do. Đây cũng là thời điểm tốt lành khi xem xét người nào chưa được sống tự do. Quả thực, sự tự do của chúng ta là một điều chúng ta không hề xem là hiển nhiên và vì thế chúng ta phải cảm tạ Đức Chúa Trời vì có một Lễ Vượt Qua.

Đây là điều dẫn tới một thắc mắc rất hay: Tự do thực sự là gì chứ?

Một câu chuyện thuật lại về người Do thái kia tiếp cận với vị rabi trong cuộc diệt chủng của quân Phátxít, trong khi hàng triệu người Do thái bị nhốt ở đàng sau các chấn song, rồi hỏi ông như sau: “Liệu chúng ta có kỷ niệm Lễ Vượt Qua năm nay không? Chúng ta có được tự do để chúng ta sẽ cảm tạ Đức Chúa Trời vì sự tự do không?” Câu trả lời vị rabi cung ứng cho họ là: “Tất nhiên là có chứ, bạn sẽ kỷ niệm Lễ Vượt Qua, một khi sự tự do còn hơn cả khả năng đi quanh quẫn và làm bất cứ điều chi bạn muốn nữa”.

Phóng viên người Do thái có tên là Steven Sotloff đã bị quân ISIS bắt cầm tù và là một trong những người Mỹ đầu tiên bị nhóm khủng bố nầy chặt đầu. Nhiều câu chuyện nổi lên cho thấy Sotloff đã thực hiện quyền tự do của mình trong khi bị giam giữ và kín đáo hướng về Jerusalem mà cầu nguyện mỗi ngày và đã kiêng ăn nhằm vào lễ Yom Kippur. Thân thể của ông đã ở đàng sau các chấn song, nhưng tâm linh và linh hồn của ông đã được tự do.

Mặt khác, hàng triệu người đang đi lại quanh quẫn hành tinh nầy với mọi sự mà họ có cần, kể cả sự tự do hoàn toàn – thế mà, họ đang sống trong một nhà ngục với các bức tường không thấy được bằng mắt thường. Họ đang sống cho những gì nhiều người khác đang suy nghĩ về họ. Hoặc họ chỉ nói ra những điều mà nhiều người khác muốn nghe họ nói. Họ đã chọn một con đường sống chiếu theo mơ tưởng của người khác, chớ không phải của chính họ.

Nhằm ngày Lễ Vượt Qua, thêm một lần nữa chúng ta buộc phải xem bản thân mình về mặt cá nhân Đức Chúa Trời đã chuộc lấy chúng ta. Một thắc mắc rất hay cần phải suy nghĩ trong suốt thời điểm nầy là: Tôi có thực sự được tự do chưa? Đời sống của tôi có được sống bởi sự lựa chọn và không phải bởi cơ hội nhiều như thế nào? Tôi chịu ảnh hưởng bởi ánh mắt của con người thay vì ánh mắt của Đức Chúa Trời nhiều như thế nào? Tôi sống tự chủ, nói ra những gì tôi tin, và thực hiện những hành động mà tôi biết là đúng đắn như thế nào? Cách tốt nhứt để tưởng niệm sự tự do của chúng ta là bằng cách thực hành sự tự do đó!


Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015

CHÚC PHƯỚC ISRAEL VỚI TÌNH YÊU THƯƠNG




Chúc Phước Israel Với Tình Yêu Thương
A-rôn giơ tay mình trên dân sự chúc phước cho; sau khi dâng của lễ chuộc tội, của lễ thiêu, và của lễ thù ân, thì người bước xuống khỏi bàn thờ” — Lêvi ký 9:22

Tuần qua, trong suốt ngày Lễ Vượt Qua, một sự kiện đáng ngạc nhiên đã diễn ra ở Bức Tường Phía Tây. Một năm hai lần, nhằm ngày Lễ Vượt Qua và Sukkot, hơn 30.000 người đến thờ phượng tụ tập ở quãng trường Bức Tường Phía Tây khi người Do thái khắp nơi trên thế giới nhận được sự chúc phước từ thầy tế lễ.

Trong phân đoạn Kinh Torah tuần nầy, các thầy tế lễ cho rằng vai trò của họ là cấp lãnh đạo thuộc linh của Israel. Hôm nay, hơn 3.000 năm sau, nhiều người Do thái vẫn còn lần theo dấu phỗ hệ gia tộc của họ đi ngược về với Arôn. Các thầy tế lễ nầy, kohanim theo tiếng Hybálai, đọc thuộc lòng lời chúc phước của dòng thầy tế lễ hôm nay và chúc phước cho quốc gia Do thái. Không một điều gì giống như điều nầy được thấy ở một cấp độ như thế kể từ khi Đền Thờ bị hủy diệt cách đây 2.000 năm. Đúng là một bối cảnh cần phải chú ý!

Lần đầu tiên chúng ta nhìn thấy một thầy tế lễ đang chúc phước cho con cái Israel trong phân đoạn Kinh thánh kinh Torah tuần nầy. Chúng ta đọc: A-rôn giơ tay mình trên dân sự chúc phước cho”. Bậc thánh hiền người Do thái lưu ý rằng đang khi cách làm nầy đã trở thành truyền thống cơ bản trong đức tin của người Do thái, không một chỗ nào trong Kinh thánh mà ở đó các thầy tế lễ thực sự được truyền cho phải chúc phước cho cả nước đâu. Về sau, trong Dân số ký 6, dòng thầy tế lễ được truyền cho biết cách chúc phước cho dân sự: Các ngươi phải chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy (câu 23). Họ được ban cho lời lẽ của sự chúc phước: Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi, và làm ơn cho ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái xem ngươi và ban bình an cho ngươi! (các câu 24–26). Tuy nhiên, dòng thầy tế lễ không hề được ban cho một chỉ thị từ Đức Chúa Trời hay Môise phải chúc phước cho dân Israel.

Bậc thánh hiền đưa ra một lời giải thích cho biết lý do tại sao phải có điều nầy. Một lời chúc phước, bởi bản chất của nó, phải đến từ tấm lòng. Để một lời chúc phước phải có quyền phép và ảnh hưởng, nó phải bằng nguồn từ một chốn yêu thương, chớ không phải từ một bổn phận.


Quí bạn ơi, chúng tôi trong xứ Israel ấp ủ những lời chúc phước của các bạn trong từng hình thức mà chúng xảy đến – trong tình yêu thương, trong sự cầu nguyện, hay trong việc làm, nguyện chúng đều vì ích của dân Israel. Chúng tôi tin sâu sắc trong Sáng thế ký 12:3, ở đó Đức Chúa Trời hứa: Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi,. . .”. Tuy nhiên, chúng tôi hạ mình xuống nài xin rằng khi bạn chúc phước cho Israel, cũng hãy yêu mến Israel nữa. Tình yêu của bạn càng lớn lao cho Israel, sự chúc phước của bạn sẽ càng lớn lao hơn. Không những chúc phước cho Israel vì bạn biết đó là việc làm phải lẽ; hãy chúc phước cho Israel vì đó là những gì Đức Chúa Trời đã đặt để trên tấm lòng của bạn phải lo làm. Khi bạn chúc phước cho Israel với tình yêu thương, đổi lại nguyện Đức Chúa Trời chúc phước cho bạn với tình yêu đời đời của Ngài.