Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2015

CHỈ XOAY ĐẦU THÔI



Chỉ Xoay Đầu Thôi
Hỡi con người, khá cho nhà Y-sơ-ra-ên biết nhà nầy, hầu cho chúng nó xấu hổ về tội lỗi mình. Chúng nó khá đo theo kiểu nó. Khi chúng nó hổ thẹn về mọi điều mình đã làm, ngươi khá giơ hình nhà nầy ra cho chúng nó, là những hình thế, đường ra, lối vào, hết thảy các hình trạng, hết thảy những mạng lịnh nó, hình nó, và hết thảy lệ luật nó. Hãy viết mà tả ra mọi điều đó trước mặt chúng nó, hầu cho chúng nó giữ lấy cả hình nó và cả lệ luật nó để làm theo” — Êxêchiên 43:10–11

Mỗi ngày là cơ hội khác để thay đổi đời sống và bản thân chúng ta sao cho tốt hơn. Tuy nhiên, phần nhiều người trong chúng ta thức giấc vào ban sáng với mọi sự đề ra phải thay đổi, chỉ để được nhắc cho nhớ rằng muốn làm như thế thì thật là khó. Thường thì chúng ta ngã lòng và choáng ngợp rồi kết thúc một ngày y như chúng ta đã bắt đầu.

Trong Thi thiên 103:12, chúng ta đọc: “Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, thì Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu”. Tuy nhiên, sự hiểu biết của người Do thái về câu Kinh thánh nầy không hoàn toàn là lạc quan. Bản dịch của người Do thái về câu Kinh thánh nầy là: “phương đông cách phương tây rất là xa, chúng ta cũng xa cách đối với Đức Chúa Trời y như thế, sự vi phạm của chúng ta được dời đi xa như vậy đấy”. Tội lỗi của chúng ta làm phân cách chúng ta rất xa đối với Đức Chúa Trời. Nhưng cũng đừng ngã lòng đấy nhé. Như một vị rabi đã giải thích, việc khép lại khoảng cách ấy chẳng mất gì nhiều đâu.

“Đông xa đoài tới cở nào ru?” Rabi Menachem Mendel xứ Kotzk thắc mắc như thế. Rồi vị rabi nói tiếp: “Đông và Tây như đứng kề cận nhau. Mọi sự bạn cần phải thay đổi là chiều hướng của cái đầu của mình mà thôi”. Nói về mặt thuộc thể, vị rabi đang nói rằng: hãy đổi cái đầu của bạn từ việc nhìn vào phía Đông sang việc nhìn vào phía Tây, điều nầy chứng minh rằng Đông và Tây ở ngay kề bên nhau – vấn đề là bạn đang nhìn về hướng nào mà thôi. Nói về mặt thuộc linh, sự việc có ý nói, khi chúng ta xoay cái đầu của mình – khi chúng ta thay đổi lý trí của mình – ngay lập tức chúng ta khép cái khoảng trống đang đe doạ sự gần gũi của chúng ta với Đức Chúa Trời.

Trong phần đọc Ngũ Kinh tuần nầy, Đức Chúa Trời đã điều khiển tiên tri Êxêchiên phải: mô tả đền thờ của dân Israel, để chúng thấy xấu hổ về tội lỗi của chúng . . . và nếu chúng thấy xấu hổ về những điều chúng đã phạm, hầu cho chúng giữ lấy thiết kế của đền thờ . . .”. Mọi sự Đức Chúa Trời yêu cầu dân sự, ấy là họ phải thấy xấu hổ về tội lỗi của họ. Nếu họ công nhận những gì họ đã phạm là sai lầm, hối tiếc về điều đó, rồi quyết định không bao giờ lặp lại mọi lầm lỗi ấy nữa, từng ấy thôi sẽ phục hồi lại mối quan hệ của họ đối với Đức Chúa Trời.
Quả thực, ở mặt nầy, sự thay đổi rất là khó. Ở mặt kia, xoay cái đầu là việc phải làm; một sự thay đổi nơi chiều hướng; một sự thay đổi của tấm lòng. Chúng ta từng đổi hướng, chúng ta ra khác biệt rồi vì chúng ta đã đổi hoàn toàn số phận của mình.


Tuần nầy, chúng ta hãy dò tìm và hãy công nhận nơi mình đã hướng đến là một hướng không đúng. Khi chùi mọi thói tật không tốt của mình dưới tấm thảm mà ai cũng biết, đấy là một sự thử thách, nhưng chúng ta hãy thử nhìn vào những việc ấy, những thứ mà chúng ta đã dùi mài quá lâu. Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta và muốn có một mối quan hệ với chúng ta cho dù là thế nào. Mọi sự Ngài yêu cầu, ấy là chúng ta công nhận sự thiếu sót của mình và thành thực hối tiếc chúng. Chỉ khi ấy, chúng ta mới hướng đầu mình về một phương hướng đúng đắn — hướng về Đức Chúa Trời!

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015

PHỤC VỤ ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG TỪNG THỜI KỲ



Phục Vụ Đức Chúa Trời Trong Từng Thời Kỳ
 “Đây là các điều ngươi sẽ dâng lên bàn thờ: Hai chiên con một tuổi, mỗi ngày thường thường như vậy. Buổi sớm mai ngươi hãy dâng một trong hai chiên con; con thứ nhì hãy dâng vào buổi chiều tối  Xuất Êdíptô ký 29:38–39

Theo truyền khẫu Do thái, đồng tiền của Ápraham chứa một hình ảnh nói tới đôi thanh niên thanh nữ mặt nầy và bức hình hai cụ già ở mặt kia. Tất nhiên, những hình ảnh nầy không nằm ở đó chỉ để làm đẹp cho tiền tệ của Ápraham. Chúng có một sứ điệp và ý nghĩa mà cả hai Ápraham và Sara mang theo với họ suốt cuộc sống của họ.

Đây là một sự nhắc nhớ các bài học mà chúng ta có thể tiếp thu từ những thời kỳ trong đời sống của chúng ta – thời thanh xuân và những năm tháng tuổi già.

Tuổi trẻ có lợi thế hơn tuổi già. Họ chan chứa tình cảm và tràn trề sức mạnh. Về mặt thuộc thể, họ có nhiều khả năng và thường thì được lèo lái một cách có lý tưởng. Đây là lý do tại sao nhiều phong trào cải cách đã khởi sự trong các chiến dịch của trường đại học – tuổi trẻ có đầy năng lực và sẵn sàng làm hết sức mình để đạt được các mục tiêu của họ.

Tuy nhiên, tuổi trẻ cũng có những hạn chế của nó. Lứa tuổi thanh niên thiếu kinh nghiệm và sự chin chắn của thế hệ cao tuổi hơn. Trong mọi sự họ đang nhìn biết kia, có nhiều thứ họ chưa biết. Có thể họ có các ý tưởng đáng khích lệ, nhưng họ không có kinh nghiệm hướng dẫn họ đạt được các mục tiêu theo cách thức tốt nhứt khả thi. Thêm nữa, tuổi trẻ dễ dàng bị lung lạc bởi tình cảm cùng các ham muốn của họ trong mọi sự theo phần xác. Những việc nầy cũng có thể trì kéo họ lại không đạt được các mục tiêu của họ.

Tuổi già có lợi thế hơn tuổi trẻ trong lãnh vực nầy. Về phần thuộc thể, chắc chắn là mất đi cái sáng láng và lung linh của nó. Chúng ta được khôn ngoan hơn khi chúng ta già dặn hơn. Chúng ta nhận biết sự hư không của của cải vật chất. Chúng ta đã tiếp thu từ các kinh nghiệm và đã luyện lọc phẩm cách của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta cũng đối diện với nhiều thách thức. Không giống như lứa tuổi thanh niên, thân thể của chúng ta đã nếm trãi cuộc sống nhiều hơn. Chúng ta có thể cảm thấy nhiều mệt mỏi và ít lanh lợi hơn thời thanh xuân của mình. Thường thì cũng đã mất đi một số tình cảm dành cho cuộc sống khi chúng ta có tuổi thêm. Khi chúng ta từng khoác lấy năng lực và đầy ngẫu hứng lúc đảm nhận một thách thức mới, thật là đáng nhớ khi nắm lấy sự phấn khích về những vụ việc mà bạn đã từng thực hiện trong 40 năm qua.

Hai mặt đồng tiền của Ápraham dạy cho chúng ta biết rằng một người cần phải rút tỉa mọi lợi ích của cả hai: tuổi già và tuổi trẻ trong mọi thời điểm. Khi chúng ta còn trẻ, chúng ta cần phải trau giồi tình trạng trưởng thành và làm chủ mọi thứ tình cảm của mình trong khi phục vụ Đức Chúa Trời với sự phấn khích và sự mạnh mẽ tự nhiên. Ở tuổi già, chúng ta cần phải tập trung mọi sức lực và động cơ, trong khi phục vụ Đức Chúa Trời với sự khôn ngoan khó mà kiếm được của chúng ta.

Trong phần đọc Ngũ Kinh tuần nầy, chúng ta đọc thấy hai thứ của lễ có cần phải được đem đến từng ngày một – một vào lúc sớm mai và một lúc chiều tối. Bậc thánh hiền Do thái dạy rằng bài học dành cho chúng ta, ấy là chúng ta cũng phải dâng của lễ cho Đức Chúa Trời vào buổi sớm mai của đời sống chúng ta và vào lúc xế chiều của đời sống chúng ta; khi chúng ta còn trẻ và khi chúng ta đã cao tuổi. Chúng ta cần phải phục vụ Đức Chúa Trời trong thời kỳ đầu tiên và trong thời kỳ cuối rốt của chúng ta – và ngay giữa từng thời kỳ.


NGÔI TRƯỜNG TRONG NIÊN KHOÁ



Ngôi Trường Trong Niên Khoá

Đứa ra trước đỏ hồng, lông cùng mình như một áo tơi lông; đặt tên là Ê-sau. Kế em nó lại ra sau, tay nắm lấy gót Ê-sau; nên đặt tên là Gia-cốp. Khi sanh hai đứa con nầy thì Y-sác đã được sáu mươi tuổi — Sáng thế ký 25:25–26

Ai là người khôn ngoan?

Điều chi khiến cho người nầy thông minh hơn người kia? Có phải đó là ân tứ được giáo dục kỹ lưỡng không? Có phải đó là sự may mắn được chào đời với ADN của một thiên tài? Bậc thánh hiền Do thái đưa ra câu hỏi nầy rồi cung ứng một câu trả lời đáng kinh ngạc. Ấy chẳng phải là tự nhiên hay là do được trưởng dưỡng đâu. Bậc thánh hiền hỏi: “Ai là người khôn ngoan?” Người nào tiếp thu từ mọi người”.

Sẽ chẳng ăn nhập gì hết một khi bạn là Albert Einstein hoặc một người tốt nghiệp ở đại học đường Harvard. Người khôn ngoan nhất trong mọi người là những người nào không hề thôi tiếp thu.

Trưởng lão Kelm, một vị rabi người Lithuan vào thế kỷ thứ 19, đã chỉ ra rằng trong khi hầu hết loài vật ra đời với khả năng bẩm sinh lo chăm sóc cho mọi nhu cần cơ bản của chính chúng, con người đã được dựng nên với chủ ý dễ bị tổn thương và không có khả năng khi họ chào đời. Những đứa trẻ sơ sinh hoàn toàn nương cậy vào bố mẹ và người giám hộ mình. Vị rabi giải thích rằng Đức Chúa Trời cố ý làm điều nầy hầu cho chúng ta được sửa soạn để học hỏi từ bố mẹ chúng ta và nhiều người khác nữa.

Tuy nhiên, theo truyền khẫu của người Do thái, Êsau, đã không chào đời theo cách ấy. Tên của ông có quan hệ với từ ngữ Hybálai asau, từ nầy có nghĩa là “làm nên”. Bậc thánh hiền bình luận rằng Êsau ra đời đã được dựng nên sẵn rồi. Ông chào đời với nhiều tóc giống như một đứa trẻ lớn tuổi hơn, và một số rabi thậm chí cho rằng Êsau khi sanh ra trông giống như một người lớn được thu nhỏ lại. Dù là cách nào, bậc thánh hiền nhất trí rằng Êsau đã thấy mình là trọn vẹn và hoàn hảo. Không nhất thiết phải học hỏi hay phát triển gì thêm!

Ngược lại, tên của Giacốp có nghĩa là “gót chơn”, giống như nơi gót bàn chơn, một phần nhỏ ở tận cùng cơ thể. Giacốp vốn ý thức rằng ông ra đời là bất toàn – thực vậy, ông đã khởi sự tiến trình lớn lên của mình và chỉ là cái “gót chơn”. Ông đã có một cuộc đời đặt trước mặt ông để phát triển thành một con người hoàn chỉnh. Đối với Giacốp, cuộc sống sẽ phải phát triển và thay đổi suốt theo thời gian. Cuộc sống sẽ trở thành lớp học của ông – trọn vẹn với các vị giáo sư cùng những tư vấn, những lần dong ruỗi và thử nghiệm – và sự học hỏi sẽ chẳng bao giờ kết thúc.

Quí bạn ơi, giống như Giacốp, hết thảy chúng ta đều có nhiều điều phải tiếp thu và ngôi trường đang ở trong niên khoá – dù chúng ta có biết điều đó hay không. Kinh thánh là quyển sách giáo khoa của chúng ta và sẽ luôn luôn có những bài kiểm tra. Sẽ có những câu đố và bài tập cùng các dự án quan trọng để chúng ta có thể cùng nhau làm việc với những người bạn cùng lớp. Các vị giáo sư của chúng ta sẽ thay đổi, và chúng ta sẽ không bao giờ biết ai là vị giáo sư kế đó. Có người chúng ta sẽ rất yêu mến và sẽ khiến cho chúng ta cảm thấy tốt lành; nhiều vị khác chúng ta sẽ không ưa thích nhiều, song họ sẽ giúp đỡ chúng ta trở nên tốt đẹp.


Ngôi trường đang ở trong niên khoá, vì vậy chúng ta cần phải chú ý cho kỹ, học hành chăm chỉ, và tiếp thu để rồi khi học đường đi đến chỗ bế giảng, chúng ta sẽ thi đậu kỳ thi sau cùng của mình với nhiều sắc màu bay bổng.

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2015

TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGHI THỨC XÃ GIAO


Tầm Quan Trọng Của Nghi Thức Xã Giao
"nghĩa là một cái chuông rồi kế một trái lựu, ở vòng khắp chung quanh viền áo. Khi A-rôn hầu việc tế lễ, sẽ mặc áo đó; và khi vào hay ra nơi thánh trước mặt Đức Giê-hô-va, người ta sẽ nghe tiếng chuông vàng nhỏ, và A-rôn khỏi chết vậy” — Xuất Êdíptô ký 28:34–35

Có người nói rằng thường dân chẳng có lịch sự như họ đáng phải có. Có người đỗ thừa việc ấy trên mạng Internet; thật là dễ ẩn núp ở đàng sau màn hình máy tính rồi nói ra đủ thứ mà người ta sẽ chẳng bao giờ nói với ai đó khi mặt đối mặt. Nhiều người khác đỗ thừa cho xã hội với tốc độ nhanh như thế kia – ai có thì giờ để mà lịch sự chứ? Tuy nhiên, như phân đoạn Ngũ Kinh tuần nầy dạy dỗ chúng ta, nghi thức là bắt buộc. bất luận là hoàn cảnh nào, chúng ta cần phải tế nhị, nghiêm trang, và lịch sự.

Trong phần mô tả y phục mà các thầy tế lễ cần phải mặc trong khi thi hành các bổn phận của họ, chúng ta không được truyền cho biết về các mục đích đặc biệt hay ý nghĩa biểu tượng của chúng. Tuy nhiên, có một ngoại lệ đáng phải chú ý. Khi đến với chiếc áo của Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm, Kinh thánh cho chúng ta biết rằng viền áo buộc phải có một hàng trái lựu được đính vào với những cái chuông. Kinh thánh dạy cho chúng ta biết, mục đích là mấy cái chuông sẽ rung lên khi thầy tế lễ bước vào Nơi Chí Thánh.

Mục đích của mấy cái chuông trên chiếc áo của thầy tế lễ thì tương ứng với việc gõ vào cánh cửa trước khi bước vào ngôi nhà hay gian phòng. Thực vậy, chiếu theo câu Kinh thánh nầy, bậc thánh hiền người Do thái dạy rằng một người phải gõ cửa thậm chí trước khi bước vào nhà của ai đó hầu cho người kia có mặt sẽ nhận biết có người sắp bước vào. Đây là một bài học về nghi thức xã giao. Chúng ta đã trở thành một xã hội rất thoải mái và thân mật – đôi khi quá thoải mái nữa là. Có nhiều khi, thật là quan trọng khi sống theo hình thức để bảo tồn tình trạng riêng tư và trang trọng của người khác.

Tuy nhiên, nếu Đức Chúa Trời muốn dạy cho chúng ta biết về các mối quan hệ giữa các cá nhân, tại sao ở đây, lại là chỗ bàn bạc chủ yếu về mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời? Thêm nữa, chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ nhận biết khi nào thì thầy tế lễ sẽ bước vào Nơi Chí Thánh – chắc chắn Ngài không cần bất kỳ một sự cảnh báo nào cả!

Bậc thánh hiền giải thích rằng Đức Chúa Trời đã chọn phân đoạn đặc biệt nầy để dạy dỗ chúng ta về tầm quan trọng của thái độ lịch sự hầu cho chúng ta sẽ hiểu rằng chẳng có một tình huống nào mà tình trạng lịch sự là không cần thiết. Có khi, chúng ta sẽ nghĩ rằng sứ mệnh của mình rất là quan trọng, cắt bỏ một số góc cạnh thì cũng không sao. Chúng ta tìm cách xưng công bình việc lái xe khá nhanh qua giao lộ hay chen lấn qua đám đông với suy nghĩ rằng cứu cánh biện minh cho phương tiện. Tuy nhiên, chẳng có gì quan trọng hơn việc giao thông với Đức Chúa Trời như Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đã thông công trong Nơi Chí Thánh – và thậm chí ở đó, đặc biệt trong khoảnh khắc ấy, nghi thức lịch sự là cần thiết.

Tuần nầy, chúng ta hãy dành thì giờ để sống thật lịch sự. Đây là việc nhỏ, giống như mở dùm cánh cửa ra cho người khác hoặc nhường chỗ ngồi trên phương tiện giao thông cộng cộng cho người lớn tuổi hơn, điều đó làm cho phẩm cách của chúng ta được tinh tế thêm. Là một phần trong sự chúng ta phục vụ Đức Chúa Trời, chúng ta hãy nhớ rằng đang khi tử tế được xem là đáng trượng, thì quan trọng hơn là biết sống tử tế kìa.


ĐỂ CHO NGƯỜI KHÁC SÁNG LÒE RA



Để Cho Người Khác Sáng Loè Ra
Ngươi hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên đem đến dầu lọc ô-li-ve ép, đặng thắp đèn cho đèn sáng luôn luôn.  Trong hội mạc, ở ngoài màn, trước hòm bảng chứng, A-rôn cùng các con trai người sẽ lo sửa soạn đèn, hầu cho trước mặt Đức Giê-hô-va đèn cháy luôn luôn từ tối cho đến sáng. Ấy là một luật đời đời cho dòng dõi dân Y-sơ-ra-ên phải giữ” — Xuất Êdíptô ký 27:20–21

Phần Ngũ Kinh tuần nầy bắt đầu: “Truyền cho dân Israel đem đến dầu lọc . . .”. Đức Chúa Trời đã ban ra mạng lịnh, nhưng Ngài đang nói cùng ai? Theo văn mạch, câu trả lời rất rõ ràng: Đức Chúa Trời đang phán cùng Môise. Tuy nhiên, sự thực cho thấy rằng Môise không được nhắc tới đích danh làm dấy lên ngọn cờ đỏ. Từ thời điểm ra đời của Môise cho tới khi kết thúc Ngũ Kinh của Môise, Tên của Môise được nhắc tới trong từng phần rất đơn giản – ngoại trừ lần nầy. Tại sao chứ?

Bậc thánh hiền Do thái giải thích rằng phân đoạn nầy xử lý với sự chỉ định Arôn làm Thầy tế lễ thượng phẩm cùng các phận sự của các dòng dõi của ông. Đây là thời điểm của Arôn. Bậc thánh hiền giải thích rằng Môise, trong chỗ hạ mình xuống thấp, ông hiểu rằng đây là phần của Arôn. Ông vui vẻ bước qua một bên để cho Arôn có thể chiếu sáng.

Ai cũng biết Môise là nhân vật khiêm hoà nhất trong mọi người (Dân số ký 12:3), và tấm gương của ông dạy cho chúng ta biết rằng sự hạ mình chân thật có đủ sự tự trọng, bạn không cần phải là nhân vật trọng tâm. Sự hạ mình chân thật có khả năng bước qua một bên với sự bình an và vui vẻ hầu cho những người khác sẽ có thời khắc của họ. Điều nầy cũng là dấu hiệu cao trọng của bất kỳ nhân vật lãnh đạo nào. Một nhà lãnh đão giỏi có thể dẫn lối đưa đường. Tuy nhiên, một nhà lãnh đạo lỗi lạc có thể mặc lấy quyền lực cho nhiều người khác để họ có thể dẫn đường cho dòng dõi của họ.

Khi Môise bước qua một bên vì cớ Arôn, đây là cách đối xử rất đẹp so với thời điểm Arôn đã dọn đường cho Môise. Hãy trở lại ở Xuất Êdíptô ký 4, khi Môise gặp gỡ Đức Chúa Trời nơi bụi gai cháy, ông đã đưa ra đủ thứ tranh luận vì lý do ông không muốn trở làm người cứu chuộc cho dân Israel. Sau cùng, Môise đã nài xin Đức Chúa Trời: “Chúa muốn sai ai đi thì sai” (câu 13), và bậc thánh hiền giải thích rằng Môise đang luận lẽ để Arôn sẽ được chọn, chớ không phải ông. Arôn, là anh cả, xứng đáng với đặc ân và vinh dự trở thành nhà lãnh đạo của dân Do thái, chớ không phải Môise. Nhưng Đức Chúa Trời đáp: Có phải A-rôn … và kìa, người đang đi đến đón ngươi kìa; khi thấy ngươi, chắc sẽ vui mừng trong lòng (câu 14). Đức Chúa Trời tái bảo đảm với Môise rằng Arôn vốn biết rõ Môise đã được chọn và ông ấy thành thật vui sướng vì Môise. Arôn không cần phải trở thành nhân vật trọng tâm – ông chỉ quá mừng vui không nhìn thấy em mình đang chiếu sáng.


Hết thảy chúng ta có thể học đòi từ Môise và Arôn bằng cách tìm kiếm những phương thức giúp đỡ cho người khác chiếu sáng. Chúng ta hãy bước lùi lại một bước để cho người khác tiến lên, có được không? Về bậc phụ huynh, điều nầy có nghĩa là cung ứng cho đứa con một cơ hội để thực hiện một công việc nào đó xứng đáng với người đã trưởng thành. Ở nơi làm việc, điều nầy có nghĩa là dành cho một công nhân một phần thực hiện điều gì mới mẻ và phi thường. Phải vui vẻ, sung sướng một khi nhiều người khác có được thời khắc của họ – và phải sẵn sàng bước qua một bên để cho người khác sáng loè ra.

TỐC ĐỘ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI




Tốc Độ Của Đức Chúa Trời
“Tới một chỗ kia, mặt trời đã khuất, thì qua đêm tại đó. Người lấy một hòn đá làm gối đầu, và nằm ngủ tại đó” — Sáng thế ký 28:11

Khỗng Tử từng nói: “Kẻ nào di dời một ngọn núi đang bắt đầu dọn đi những hòn đá nhỏ”. Tuy nhiên, có nhiều người thậm chí chưa đi xa tận đó. Nhìn vào một hòn núi lớn, ai có thể tin rằng mình có thể di dời được nó chứ? Cho dù là cố gắng đi nữa? Tuy nhiên, lịch sử thì đầy dẫy với những truyện tích nói tới hạng người có đức tin, họ thực hiện những kỳ công vĩ đại bởi vì họ bằng lòng khởi sự rất nhỏ nhoi và họ đã làm hết sức mình.

Trong phần đọc Ngũ Kinh tuần nầy, Giacốp đã khởi sự một chuyến hành trình dài hướng tới Charan. Ông đã đối diện với hàng trăm dặm đường qua nhiều núi non và sa mạc trong bầu khí hậu oi bức của vùng Trung đông. Tuy nhiên, bậc thánh hiền dạy rằng Đức Chúa Trời đã rút ngắn hành trình của Giacốp. Câu Kinh thánh cho chúng ta biết rằng Giacốp đã rời Bêe Sêba và rồi “tới một chỗ kia”. Từ ngữ Hybálai được sử dụng trong câu nói đến “tới” là một sự chọn lựa khá bất thường. Thực vậy, chữ ấy có ý nói “và ông đã đến chỗ đó”. Nói cách khác, Kinh thánh đang nói cho chúng ta biết rằng Giacốp thình lình đến được nơi ấy. Ông đã tới đó khi ông không mong là mình sẽ đến được nơi ấy đâu. Bậc thánh hiền giải thích: “Đức Chúa Trời đã rút ngắn con đường ở dưới chơn của ông”.

Đây không phải là lần đầu tiên Đức Chúa Trời làm cho hành trình của ai đó được ngắn lại và dễ dàng hơn là hành trình đó có. Truyền khẫu Do thái dạy rằng chính việc ấy đã xảy ra cho tôi tớ của Ápraham khi ông ta đi tìm cho Ysác một người vợ. Sự việc đã xảy ra một lần nữa cho các thám tử, họ đi ra thám thính vùng Đất Hứa. Và điều đó cũng rất thực đối với chúng ta nữa. Khi chúng ta tiếp tục chuyến hành trình phù hợp với ý chỉ của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời sẽ vùa giúp chúng ta. Có nhiều việc sẽ thay đổi nhanh hơn, dễ dàng hơn, và hiệu quả hơn chúng ta nghĩ là khả thi.

Xứ sở Israel non trẻ là một điển hình rất trọn vẹn. Chỉ cách đây 66 năm thôi, người Do thái có quyền chính thức trở về quê hương của họ. Chỉ khi ấy, chúng ta khởi sự với lòng sốt sắng nhất lo xây dựng tái thiết lại xứ sở của mình, nó đã ở trong sự đổ nát. Không phải đợi đến 70 năm sau, Israel đã làm cho sa mạc trổ hoa. Vùng đất nhỏ bé của chúng ta chịu trách nhiệm về các đột phá về y học và kỹ thuật hiện đang làm thay đổi phương thức mà con người sinh sống ở khắp nơi nơi. Quân đội của chúng ta là loại quân đội mạnh mẽ và đáng gờm nhất. Israel đã đạt được nhiều thứ trong 66 năm hơn nhiều quốc gia đã đạt được trong nhiều thế kỷ.

Đấy là Đức Chúa Trời đang rút ngắn chuyến hành trình của chúng ta. Chính Đức Chúa Trời đang vùa giúp chúng ta với nhiều phương thức siêu nhiên. Khi chúng ta bước đi trên con đường mà Đức Chúa Trời đã chúc phước cho, thì chỉ có nói được rằng chúng ta sẽ mau đến tại nơi mà chúng ta muốn đến đó lắm.


Đừng bao giờ ngã lòng bởi bất kỳ một phần việc đồ sộ nào mà bạn cảm thấy mình được kêu gọi phải hoàn thành. Với sự vùa giúp của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể dời đi những ngọn núi và trải qua bao khoảng cách xa xôi với một lượng thời gian rất ngắn. Chìa khoá là hãy bước ra với đức tin và thực hiện bước thứ nhứt. Đức Chúa Trời sẽ quan phòng chúng ta qua phần còn lại của chuyến hành trình.

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015

GIỜ THỨ 11


Giờ Thứ 11

“Vì Ngài giải cứu tôi khỏi mọi mỗi gian truân; Mắt tôi thấy sự báo trả cho kẻ thù nghịch tôi” — Thi thiên 54:7

Đôi khi sự cứu rỗi đến từ Đức Chúa Trời trước khi chúng ta thậm chí biết mình đang ở trong sự nguy hiểm nữa. Những lần khác, chúng ta ý thức rõ tầm hiểm nguy sắp xảy ra; chúng ta cầu xin sự trợ giúp của Đức Chúa Trời và chúng ta để ý thấy rằng mình được cứu ra khỏi mọi rối rắm đó. Tuy nhiên, cũng có những lúc khi chúng ta nhận biết rằng rắc rối trầm trọng đang hướng vào đường lối chúng ta và chúng ta nài xin Đức Chúa Trời giải cứu cho, tuy nhiên, sự giải cứu không đến – ít nhất là không có liền đâu.

Loại chờ đợi để được cứu như thế nầy là đề tài của Thi thiên 54. Như phần giới thiệu đang chỉ ra, Thi thiên nầy đã được viết ra khi người Xíp muốn giao nộp David cho Vua Saulơ, vị vua nầy thân chinh tìm giết David. Khi chúng ta nhìn vào nội dung của biến cố nầy trong I Samuên 23, sự phản bội của họ ngày càng gắt gao hơn.

David đang trên đường trốn chạy khỏi Saulơ, đi từ chỗ nầy đến chỗ kia, cho tới lúc sau cùng, ông tìm được sự bình tịnh trong sa mạc Xíp. David biết rõ Saulơ vẫn còn tìm kiếm ông, nhưng như Kinh thánh cho chúng ta biết, Đức Chúa Trời không để cho Saulơ tìm được David. Giônathan, là con ruột của Saulơ, nhưng lại là người hỗ trợ trung thành cho David, thậm chí đãđến với David để thêm sức cho ông trong đức tin, Giônathan hứa rằng Đức Chúa Trời sẽ bảo hộ cho ông và một ngày kia ông sẽ lên ngôi làm vua. Tấm lòng của David bèn dịu lại và mọi việc trầm hẳn xuống.

Ở thời điểm nầy, Giônathan thực sự bó tay và đã quay trở về nhà. Sau thời gian Saulơ đã để ra truy tìm David, cuối cùng thì mọi việc cũng qua đi. David đã thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Và sự thể rất chính xác khi người Xíp – họ biết rõ rằng David đang ẩn náu giữa vòng họ – họ tìm cách giao nộp ông. Họ đến gặp Saulơ rồi tỏ cho ông ấy chính xác nơi David đang ẩn náu.

Đây là lúc David đã dâng lời cầu nguyện. Ông đã trốn chạy, lại bị làm phản. Song ông không chao đảo, đức tin ông đặt nơi Đức Chúa Trời. Trong câu cuối của Thi thiên nầy, ông đã khẳng định đức tin của ông đặt nơi Đức Chúa Trời, ông nói: “Vì Ngài giải cứu tôi khỏi mọi mỗi gian truân; Mắt tôi thấy sự báo trả cho kẻ thù nghịch tôi”. Thực vậy, David đã nói rằng mọi sự dường chẳng tốt lành chi hết, ông biết rõ Đức Chúa Trời, Ngài đã cứu ông ra khỏi mọi sự khác, sẽ lại đến để cứu ông nữa.

Và Đức Chúa Trời đã giải cứu ông.

Vào phút sau cùng, giống như Saulơ sắp sửa bắt được David, Đức Chúa Trời đã sai một sứ giả báo cho Saulơ biết một cuộc tấn công “đáng kinh ngạc” từ dân Philitin. Saulơ buộc phải để David lại đó một mình để lo bảo vệ cho dân Israel. Đến giờ thứ 11, David đã được giải cứu. 

Tôi muốn khích lệ chúng ta hết thảy đừng bao giờ xao lãng về ơn giải cứu của Đức Chúa Trời. Dầu khi dường như sắp hết giờ và chúng ta chẳng còn biết làm chi nữa, Đức Chúa Trời vẫn cứu vớt chúng ta. Giống như Ngài có hàng triệu lần trước đó, Đức Chúa Trời của chúng ta có quyền làm ra nhiều phép lạ – thậm chí vào giờ thứ 11.