Thứ Ba, 10 tháng 2, 2015

CAO TRỌNG HƠN CÁC THIÊN SỨ


CAO TRỌNG HƠN CÁC THIÊN SỨ

Các ngươi sẽ làm người thánh của ta, chớ nên ăn thịt chi bị thú rừng xé ở ngoài đồng; hãy liệng cho chó ăn” — Xuất Êdíptô ký 22:31

Nằm giữa 10 Điều Răn và sự tiếp nhận Lời Đức Chúa Trời của dân Israel là một câu mà ở đó Đức Chúa Trời phán: Các ngươi sẽ làm người thánh của ta”. Menachem Mendel ở xứ Kotzk, một rabi vào thế kỷ thứ 18, có một lời bình rất hay về câu nầy. Ông nói: “Ngươi sẽ là thánh, mà là người . . . Chúa Tể của vũ trụ chẳng thiếu thiên sứ ở trên trời”. Khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta Ngũ Kinh, Ngài mong mỏi sự thánh khiết của con người, chớ không phải sự thánh khiết của hàng thiên sứ.

Nói như vậy có nghĩa gì chứ?

Bậc thánh hiền Do thái dạy rằng khi Môise trèo lên Núi Sinai để đem Lời của Đức Chúa Trời xuống cho dân sự, các thiên sứ đã phản kháng. Các thiên sứ chẳng có ý kiến gì về mọi điều có trong Kinh thánh, chỉ vì Đức Chúa Trời đã giấu kín Lời ấy trải qua nhiều thế hệ mà thôi. Họ biết rõ đây là của báu rất quan trọng và chứa trong đó là một sứ mệnh tối quan trọng.

Và đấy là những gì các thiên sứ đang làm; họ lo chu toàn các sứ mệnh.

Các thiên sứ không có bản ngã. Họ chẳng có những ham muốn bất kỉnh. Họ làm chính xác những gì Đức Chúa Trời đã dựng nên họ để lo làm – không thêm cũng không bớt. Vì vậy, khi Đức Chúa Trời ban cho con người báu vật quan trọng nầy, sứ mệnh đặc biệt nầy, các thiên sứ đã bị sốc! Làm sao mà Đức Chúa Trời lại chọn một con người chẳng có gì là hoàn hảo hết để thực thi sứ mệnh quan trọng nhất trong mọi sứ mệnh chứ? Họ dội vang lời lẽ trong Thi thiên 8:4–5: Loài người là gì, mà Chúa nhớ đến? … Chúa làm người kém Đức Chúa Trời một chút”. Bất chấp sự thực con người được dựng nên kém hơn các thiên sứ, các thiên sứ cứ tiếp tục: Ngài [Đức Chúa Trời] Đội cho người sự vinh hiển và sang trọng”.
Đức Chúa Trời  bảo Môise rằng ông phải trả lời với những sự than phiền của các thiên sứ. Vì vậy, Môise thưa cùng Đức Chúa Trời ở trước mặt bao thiên sứ: “Trong Ngũ Kinh của Ngài có gì chứ?” Đức Chúa Trời đáp: “Ta là Giêhôva Đức Chúa Trời, là Đấng đã đem ngươi ra khỏi xứ Aicập”. Khi ấy Môise xây sang các thiên sứ rồi nói: “Quí Ngài có ở trong xứ Ai cập không? Quí Ngài có ở trong chốn tối tăm ấy không? Còn Ngũ Kinh có quan hệ gì với quí Ngài chứ?” Môise tiếp tục nói bằng cách xem lại các điều răn của Đức Chúa Trời và thể nào chẳng có điều nào trong đó áp dụng cho các thiên sứ cả. Các thiên sứ không phải lo liệu gì với sự cám dỗ, sự ganh tỵ, sự thách thức, hay các sự xung đột. Họ sống ở một nơi sáng láng lạ lùng.

Mặt khác, con người phải xử lý, lo liệu với đủ loại tối tăm – cả ở bên ngoài cũng như ở bên trong chúng ta. Đấy là chỗ đặt để sự cao trọng của chúng ta. Các thiên sứ có thể là những hữu thể sáng láng, nhưng chỉ có hữu thể con người mới có thể nắm lấy sự tối tăm rồi biến nó ra sáng láng. Chỉ có con người mới có thể thắng hơn những ham muốn tội lỗi, mở rộng sự tử tế khi bị cám dỗ, và sử dụng thế giới vật lý nầy cho các mục đích thuộc linh.

Hôm nay, hãy nhớ rằng bạn luôn cao trọng hơn các thiên sứ. Khi bị cám dỗ phạm việc chi đó sai trái, hãy chọn làm theo điều chi là phải. Khi đối diện với sự tối tăm, hãy chọn sự sáng. Sự cao trọng của chúng ta nằm trong chỗ yếu đuối của chúng ta . . . và sự cam kết không dời đổi muốn thắng hơn chúng.


ĐỨC CHÚA TRỜI NGỰ TRONG CHỖ TỐI TĂM


Đức Chúa Trời ngự trong chỗ tối tăm
Môi-se đáp rằng: Đừng sợ chi, vì Đức Chúa Trời giáng lâm đặng thử các ngươi, hầu cho sự kính sợ Ngài ở trước mặt các ngươi, cho các ngươi không phạm tội. Vậy, dân sự đứng cách tận xa, còn Môi-se đến gần đám mây đen kịt có Đức Chúa Trời ngự ở trong — Xuất Êdíptô ký 20:20–21
Khi con cái Israel đứng tại Núi Sinai để nhận lãnh Lời của Đức Chúa Trời, họ đã nhận ít hơn họ đã lằm bằm mặc cả, gồm sấm sét, khói, và tiếng kèn thổi vang! Mọi thứ đều là quá nhiều cho dân Israel, và họ đã run rẩy sợ hãi cho mạng sống của họ. Nhưng Môise đã nói cùng họ:Đừng sợ chi, vì Đức Chúa Trời giáng lâm đặng thử các ngươi, hầu cho sự kính sợ Ngài ở trước mặt các ngươi, cho các ngươi không phạm tội”.
Nói cách khác, Môise đang nói: “Đây chỉ là một thử nghiệm vì ích riêng của các ngươi, để các ngươi biết kính sợ Chúa và đứng dang xa ra đối với tội lỗi”. Tuy nhiên, dân sự vẫn còn kinh sợ và “đứng cách tận xa”.
Tuy nhiên, Môise đã làm ngược lại. Ông đã đứng gần với Đức Chúa Trời hơn. Kỳ thực, câu Kinh thánh cho chúng ta biết rằng “Môise đến gần đám mây đen kịt . . .”. Môise cứ bước tới mặc dù khi cứ bước tới như thế, thì đám mây càng đen kịt hơn. Hãy chú ý, câu Kinh thánh gọi đám mấy là “đen kịt”; đây không phài là màu đen bình thường. Đây là màu đen không thể xuyên thấu được. Tuy vậy, chỗ đen kịt ấy “có Đức Chúa Trời ngự ở trong”.
Hết thảy chúng ta đều kinh nghiệm sự tối tăm trong đời sống của chúng ta. Đối với người nầy, có thể đó là những khó khăn về tài chính; đối với nhiều người khác, có thể đó là sự nghèo khó tư niên. Đối với một số người, có thể đó là một cuộc hôn nhân dường khư không kham nổi, và đối với nhiều người khác, có thể đó là một mối quan hệ đầy đau khổ với một thành viên trong gia đình. Chúng ta kinh nghiệm mất mát trong cuộc sống khi chúng ta mất đi một người thân yêu dấu. Chúng ta kinh nghiệm bệnh tật – chính bệnh tật của mình hay của những người mà chúng ta rất yêu mến. Trong những thời điểm giống như thế, bóng tối tăm không sao dò thấu được.
Nhưng đâu là phản ứng của chúng ta đối với mọi sự trong chổ tối tăm nầy? Chúng ta phản ứng thế nào đối với sợ hãi, lộn xộn, sự kinh khiếp trong chỗ không biết mình phải xoay trở ra sao nữa? Có phải chúng ta cứ đứng xa xa đối với Đức Chúa Trời không? Hay chúng ta đến gần Ngài hơn?
Nhiều người bị cám dỗ cứ đứng cách tận xa kia.Sự nếm trải những khoảnh khắc đen tối có thể khiến cho chúng ta cảm thấy bị bỏ rơi hay bị Đức Chúa Trời chối bỏ. Nhưng Môise dạy chúng ta một bài học đáng kinh ngạc trong mấy câu Kinh thánh nầy — Đức Chúa Trời ngự ở trong chỗ đen kịt ấy! Những thời điểm tăm tối không phải là lúc để xây khỏi Đức Chúa Trời đâu – chúng là khoảnh khắc quí báu để đến gần với Ngài hơn đấy.
Trong Thi thiên 91:15, Đức Chúa Trời phán: Trong sự gian truân, ta sẽ ở cùng người. Đức Chúa Trời đang ở với chúng ta trong những thời điểm gian nan nhất. Đã đến lúc cho chúng ta phải nắm lấy Ngài và để cho Ngài bồng ẳm chúng ta qua.

Khi Đức Chúa Trời dựng nên thế gian, sự tối tăm đã có trước rồi mới có sự sáng. Ban đêm có trước, rồi mới có ban ngày. Nếu bạn thấy mình đang ở trong thời kỳ tối tăm lúc bây giờ, đừng sợ hãi. Hãy làm theo như Môise đã làm và cứ giữ việc bước tới trong đức tin. Nếu bạn bền đỗ, trong chỗ tối tăm ấy là quí báu lắm, vì ở đó bạn sẽ tìm gặp Đức Chúa Trời – và rồi sẽ có sự sáng láng cho.

CUNG ỨNG HY VỌNG VÀ SỰ CHỮA LÀNH


Cung Ứng Hy Vọng và Sự Chữa Lành

Khi hai người đánh lộn nhau, người nầy đánh người kia bằng đá hay là đấm cú, không đến đỗi phải chết, nhưng phải nằm liệt giường, nếu đứng dậy chống gậy đi ra ngoài được, người đánh đó sẽ được tha tội. Nhưng chỉ phải đền tiền thiệt hại trong mấy ngày nghỉ và nuôi cho đến khi lành mạnh — Xuất Êdíptô ký 21:18–19

Phần đọc Ngũ Kinh tuần nầy dẫn đến câu chuyện trong phần đọc Kinh thánh tuần qua, bao gồm sự khải thị của Đức Chúa Trời tại Núi Sinai và việc ban ra 10 Điều Răn, thêm một bước nữa. Trong phần đọc nầy, chúng ta được cung ứng một danh sách rõ ràng về các luật lệ cần thiết dành cho một xã hội lành mạnh, lấy Đức Chúa Trời làm trọng tâm, kính sợ Đức Chúa Trời, công bình và bình đẳng. Kính mến Đức Chúa Trời là chưa đủ theo một phương thức trừu tượng; chúng ta phải nắm lấy tình yêu thương đó rồi đổi nó thành lối sống trung tín.

Một trong những luật lệ được đưa ra thảo luận trong phần đọc đặc biệt nầy nói tới những gì đang xảy ra nếu người nầy đánh trọng thương người kia. Như chúng ta sẽ thấy, Kinh thánh mô tả: Khi hai người đánh lộn nhau, người nầy đánh người kia bằng đá hay là đấm cú, …. người đánh đó sẽ được tha tội. Nhưng chỉ phải đền tiền thiệt hại trong mấy ngày nghỉ và nuôi cho đến khi lành mạnhCác rabi giải thích rằng bên có lỗi phải bồi thường hoàn toàn cho bên bị thương tích, bao gồm trả hết mọi chi phí thuốc men. Bậc thánh hiền Do thái cũng chỉ ra rằng chính từ câu nầy mà chúng ta học biết rằng một người có phép được chăm sóc về mặt y tế. Chúng ta được phép đi bác sĩ để được chữa lành.

Trong tiếng Hybálai, hai từ sau cùng của câu Kinh thánh là rapoh yirapehsát nghĩa có ý nói “chữa lành và được chữa lành”. Đấng tiên kiến Lublin, một vị rabi nổi tiếng vào thế kỷ thứ 18, đã bình luận về cụm từ nầy, nói rằng một vị bác sĩ được phép chữa trị, song ông không được phép làm cho người được chữa trị phải thất vọng. Mặc dù theo mọi sự học hỏi và kinh nghiệm của ông, ông tin rằng dù một bịnh nhân không có được cơ hội, vị y sĩ không được phép bỏ cuộc. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có tiếng nói sau cùng về người đó có được chữa lành hay không!?! Công việc của vị y bác sĩ là thực hiện sự chữa lành bất luận người ta có nói gì đi nữa. Ngoài ra, ông được phép cung ứng cho bịnh nhân niềm hy vọng, song ông không được phép gác bỏ hy vọng đi. Một vị y sĩ không bao giờ nói cho bệnh nhân biết là chẳng còn có hy vọng nữa.

Các rabi nắm lấy ý tưởng nầy, đưa nó đi một bước xa hơn và giải thích rằng chính nguyên tắc đó đang nắm giữ mọi phương diện của sự sinh tồn của chúng ta – về thuộc thể, về tình cảm, và về mặt thuộc linh nữa. Chúng ta có thể sống trong hy vọng, và khi chúng ta hy vọng, chúng ta sẽ không hề từ bỏ hy vọng. Chúng ta sẽ không bao giờ nói rằng người nầy hay người kia không có cơ hội để mà ăn năn. Chúng ta đừng bao giờ quyết định mình không có cơ hội để cải thiện cách xử sự của chính mình. Chúng ta đừng bao giờ quyết rằng bất kỳ tình huống nào là vô vọng hết. Trong thế giới lấy Đức Chúa Trời làm trọng tâm, bất cứ điều gì cũng luôn luôn là khả thi cả. Công việc của chúng ta là chữa lành và được chữa lành; đó là hy vọng và cung ứng hy vọng.

Lần tới, bạn hay một người bạn kinh nghiệm một tình huống ảm đạm, hãy nhớ những việc duy nhứt mà bạn được phép làm là cung ứng hy vọng, cung ứng sự giúp đỡ, và tạo điều kiện thuận lợi cho sự chữa lành – và khi ấy hãy để cho Đức Chúa Trời làm phần việc của Ngài.


Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

HÃY NHỚ NGHỈ NGƠI


Hãy Nhớ Nghỉ Ngơi
“Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái tôi trai tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công việc chi hết — Xuất Êdíptô ký 20:9–10 

Có nhiều cách để phục vụ Đức Chúa Trời. Đôi khi chúng ta được kêu gọi để cho kẻ đói ăn, những lần khác thăm viếng người đau ốm. Một số người trong chúng ta được kêu gọi để lao động và kiếm sống để tiếp trợ cho gia đình mình. Nhiều người khác phục vụ Đức Chúa Trời bằng cách ở tại nhà và lo liệu mọi nhu cần trong gia đình mình. Có nhiều cách thức lắm cho sự phục vụ Đức Chúa Trời – và có khi, cách phục vụ Ngài tốt nhứt là nghỉ ngơi.

Trong phần đọc Kinh thánh tuần nầy, khi chúng ta đọc đến 10 Điều Răn, chúng ta đến với điều răn hãy nhớ ngày Sa-bát. Câu Kinh thánh chép: “Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái tôi trai tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công việc chi hết”.

Từ ngữ Hybálai trong Kinh thánh cho cụm từ “người hãy làm hết công việc mình” là ta’avod, nó cũng có nghĩa là “ngươi sẽ phục vụ”. Bậc thánh hiền Do thái đề nghị cách đọc câu nầy như sau: “Sáu ngày ngươi sẽ phục vụ Đức Chúa Trời bằng cách làm mọi công việc của ngươi, nhưng ngày thứ bảy là ngày Sa-bát . . . và ngươi sẽ phục vụ Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi bằng cách không làm công việc chi hết”. Đôi khi chúng ta phục vụ Đức Chúa Trời qua công việc của hai bàn tay mình, nhưng ngày Sa-bát dạy chúng ta rằng ở những lần khác, cách thức phục vụ Đức Chúa Trời là bằng sự nghỉ ngơi.

Nghỉ ngơi phục vụ Đức Chúa Trời như thế nào?

Maimonides, nhà vật lý và là rabi nổi tiếng của thế kỷ thứ 12, đã từng nói: “Nếu một người đi ngủ để giúp cho tâm trí mình nghỉ ngơi và cung ứng sự yên nghỉ cho thân thể mình hầu cho người sẽ không mắc bịnh và không thể phục vụ Đức Chúa Trời vì cớ đau ốm, trong trường hợp nầy chính giấc ngủ của người là sự phục vụ cho Đức Chúa Trời”. Mọi sự đều nương vào suy nghĩ của chúng ta. Nếu chúng ta ăn uống hầu cho chúng ta có năng lực để phục vụ Đức Chúa Trời, thế thì sự ăn uống của chúng ta là sự phục vụ cho Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta tập tành hầu cho chúng ta có sức lực để phục vụ Đức Chúa Trời, thế thì sự tập tành của chúng ta là sự phục vụ Đức Chúa Trời. Và nếu chúng ta nghỉ ngơi hầu cho chúng ta có thể phục vụ Đức Chúa Trời với sự vui vẻ, sốt sắng, và mạnh mẽ, khi ấy sự nghỉ ngơi cũng là sự phục vụ cho Đức Chúa Trời nữa.

Thêm nữa, có một ý nghĩa sâu sắc hơn cho nghỉ ngơi là sự phục vụ Đức Chúa Trời. Khi chúng ta nghỉ ngơi – khi chúng ta nghỉ xã hơi từ việc làm mọi sự mà chúng ta đang làm – chúng ta đang bày tỏ ra đức tin của chúng ta nơi Đức Chúa Trời. Nhiều người tham công rách việc vì họ nghĩ rằng nếu họ thôi không làm việc, thế giới sẽ thôi không còn quay trên cái trục của nó nữa. Khi chúng ta nghỉ ngơi, chúng ta công nhận rằng Đức Chúa Trời là Đấng đang điều khiển thế giới, chớ không phải chúng ta. Đức tin nầy cũng là sự phục vụ Đức Chúa Trời.

Tuần nầy, hãy nghỉ xã hơi đi. Phải nhớ nghỉ ngơi, thoải mái, và lấy sức lại. Đôi khi việc lớn lao nhất mà chúng ta có thể làm cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là không làm công việc chi hết.


Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

KHI ĐẾN LÚC PHẢI THAY ĐỔI



Khi Đến Lúc Phải Thay Đổi
Vậy Pha-ra-ôn cứng lòng, không tha dân Y-sơ-ra-ên đi, y như lời Đức Giê-hô-va đã cậy Môi-se mà phán — Xuất Êdíptô ký 9:35

Mùa hè vừa qua, Naftali Bennett, một nhà chính trị hàng đầu trong xứ Israel, đã trao đổi với một khán thính giả ở một hội nghị về hoà bình. Chuyện xảy ra cho thấy rằng Naftali Bennett đang ở cánh hữu về chính trị và hầu hết khán thính giả của ông ngày ấy không có nhiều người bên cánh tả. Nhưng đấy chẳng phải là điều mà tôi đang nhắm vào. Sứ điệp mà ông ấy trình bày ở phần khởi sự bài diễn văn của ông là một bài học rất quan trọng cho hết thảy chúng ta.

Bennett đã mở đầu bài nói của ông bằng cách gợi lại những ngày ông ở trong công ty chuyên về kỹ thuật cao. Ông đã mô tả thể nào ông cùng với mấy người bạn phác hoạ chương trình rồi vận động ngân quỹ tài trợ cho sản phẩm của họ, là thứ được rao bán trên Internet. Họ đang thăng đường với những hy vọng cao kỳ dành cho tương lai. Một năm rưỡi sau đó, Bennett giải thích, công ty đã đi 100 dặm/giờ với 70 nhân công và chi phí hàng tháng rất là lớn lao. Nan đề duy nhứt là chẳng có chỗ bán. Hết tháng nầy sang tháng khác, Bennett đã xuất hiện trước ban bệ của mình rồi giải thích rằng mọi việc sẽ cải thiện và tiền bạc sẽ đến. Song sự thực cho thấy rằng công ty đã đi 100 dặm/giờ lao thẳng vào một bức tường bằng gạch. Sau cùng, cố vấn tài chính của Bennett nói cho ông biết rằng nếu việc không thay đổi, họ sẽ phải tuột dốc thôi. Bennett đã mô tả khoảnh khắc ấy thật là chói tai, nhưng cảm tạ Chúa ông ông đã nghe theo lời cảnh cáo và công ty đổi hướng đi cách hoàn toàn. Họ vứt đi mọi thứ họ đã đầu tư rất nhiều thì giờ, tiền bạc, và năng lực vào đấy vì họ nhìn biết nó không hoạt động. Họ đã thay đổi lộ trình một cách hoàn toàn, và vì lý do đó, công ty là một công ty rất thành công ngày nay.

Sứ điệp của Bennett dành cho các đối thủ chính trị của mình không phải là vấn đề, ấy là họ phải chỗi dậy và đổi hướng. Mục tiêu, ấy là hết thảy chúng ta đang nhọc nhằn bám vào quá lâu đối với các ý tưởng và giá trị không phục vụ cho chúng ta. Chúng ta cần phải biết rõ khi nào thì phải chỗi dậy và đổi hướng.

Đây là những gì Pharaôn trong phần đọc Kinh thánh tuần nầy đã thực hiện. Trong phần đọc Kinh thánh tuần nầy, ông ta đã kinh nghiệm 7 trong 10 trận dịch lệ — huyết, ếch nhái, ruồi mòng, thú dữ,ghẻ chốc, dịch lệ, và các trận bão tồi tệ nhất mà Aicập đã từng nom thấy, trừ ra vùng đất Gôsen, ở đó dân Isarel đã sinh sống. Tuy nhiên, Pharaôn đã từ chối, cứ cứng lòng. Với tấm lòng chai cứng và ngang ngạnh, ông ta đã từ chối không chịu đổi hướng rồi để cho con cái Israel ra đi. Ông ta đã dẫn xứ sở mình đâm thẳng vào một bức tường bằng gạch – hạy chính xác hơn, đâm thẳng xuống biển – ở đó họ bị hư mất.


Khi chúng ta đọc câu chuyện ấy vào tuần nầy, chúng ta hãy xem xét chỗ mà chúng ta cần phải thực hiện sự thay đổi trong chính đời sống của chúng ta. Chúng ta hãy học biết gạt bỏ đi những ý tưởng và giá trị nào đang dẫn chúng ta đi xuống con đường lệch lạc. Chúng ta hãy công nhận khi đã đến lúc phải đổi hướng và thu lấy sức mạnh để thực hiện công việc đó.

CÓ HY VỌNG VỀ TÌNH YÊU THƯƠNG


Có Hy Vọng Về Tình Yêu Thương

Vậy, Giê-trô, ông gia của Môi-se, đến với hai con trai và vợ Môi-se, thăm người nơi đồng vắng, chỗ đóng trại gần bên núi Đức Chúa Trời — Xuất Êdíptô ký 18:5

Phân đoạn Kinh thánh tuần nầy khởi sự: “Giê-trô, thầy tế lễ xứ Ma-đi-an, ông gia của Môi-se, hay được mọi điều Đức Chúa Trời đã làm cho Môi-se cùng Y-sơ-ra-ên, là dân sự Ngài, và nghe Ngài đã dẫn dân ấy ra khỏi xứ Ê-díp-tô” (Xuất Êdíptô ký 18:1). Khi đọc câu chuyện nầy, mọi người đều muốn biết chính xác thì Giêtrô đã nghe được điều gì khiến ông muốn rời khỏi cuộc sống mình trong vai trò một thầy tế lễ thượng phẩm giàu có. Có phải ông nghe nói đến 10 trận dịch không? Có phải ông đã nghe nói đến việc chia biển ra làm hai? Có phải ông đã nghe nói đến trận đánh lạ lùng chống lại dân Amaléc không?

Bậc thánh hiền Do thái hết thảy đều trả lời cho các thắc mắc ấy một cách khác nhau. Họ đưa ra tính cách giá trị cho mỗi khả năng trong các khả năng ấy.Tuy nhiên, tôi muốn nhắm vào một khả năng khác kìa: Giêtrô đã nghe nói có hy vọng về tình yêu thương.

Chúng ta hãy giải thích với cùng nền tảng ấy. Khi những câu tới sau cho chúng ta biết, Môise đã ly dị với vợ mình là Sêphôra. Ông đã để nàng cùng hai con trai ở lại trong xứ Mađian với cha ruột nàng là Giêtrô. Môise không thể làm cho sinh hoạt gia đình được thuận hoà với sứ mệnh mà Đức Chúa Trời của ông đã giao cho. Hai vợ chồng đã chia tay, đường ai nấy đi.

Khi đó, Giêtrô đã nghe nói đến Biển Đỏ phân ra làm hai. Bậc thánh hiền Do thái giải thích rằng khi Đức Chúa Trời phân biển ra làm hai, Ngài đã dựng nên một thực tại có thể kéo dài mãi cho đến đời đời. Biển bị chia ra như vậy trong một phương thức cho thấy ở mỗi đầu của đại dương đều có đất – đất giữ ở hai bên biển. Tuy nhiên, cái điều lôi kéo sự chú ý của Giêtrô, ấy là sau khi đại dương bị phân ra làm hai, nó có thể úp lại với nhau giống như thể nó chưa hề bị phân ra trước đó vậy. Cái bóng đèn tắt đi trong đầu của Giêtrô rồi ông nhũ thầm rằng: “Nếu biển mà bị phân ra làm hai, bị chia ra làm hai, có thể úp trở lại với nhau, thế thì có hy vọng cho cuộc hôn nhân của con gái mình”.

Việc kế tiếp chúng ta đọc trong Kinh thánh, ấy là Giêtrô đã đưa Sêphôra củng các con trai nàng trở lại với Môise, và theo bậc thánh hiền, Môise đã kết hôn với nàng lần thứ nhì. Giống như biển trở lại với nhau tới mức độ như nó đã có trước đó chưa hề bị phân ra, cũng một thể ấy Môise và Sêphôra, cũng trở lại với nhau và mối hôn nhân của họ giống như nó luôn luôn là vậy.

Quí bạn ơi, tôi muốn khích lệ chúng ta, luôn luôn có hy vọng về tình yêu thương. Đôi khi, có một sự phân rẻ giữa con người. Có thể, việc ấy xảy ra giữa bố mẹ và con cái, hai vợ chồng có thể tách rời ra, hoặc bạn bè nào cũng có sự tranh cãi. Nhưng đừng bao giờ gạt bỏ đối với các mối quan hệ mà họ đã ấp ủ lâu nay. Đừng mau miệng thốt ra những điều không hay. Có khi, trong những trường hợp cực kỳ, đó là sự thật; những việc không thể quay trở lại với cách mà chúng đã xảy ra. Tuy nhiên, đừng từ bỏ cách quá mau. Nếu bạn đã chia tay, bạn có thể trở lại với nhau mà.


Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

CHÚNG TÔI CẦN TIẾNG KÊU LA CỦA QUÍ VỊ


Chúng Tôi Cần Tiếng Kêu La Của Quí Vị

Công chúa mở rương ra, thấy đứa trẻ, là một đứa con trai nhỏ đang khóc, bèn động lòng thương xót mà rằng: Ấy là một đứa con của người Hê-bơ-rơ — Xuất Êdíptô ký 2:6

Trong phần đọc Ngũ Kinh tuần nầy, chúng ta đọc về sự ra đời của Môise, ông là người đã cứu lấy dân Israel. Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với câu chuyện đều biết rõ, sự ra đời và sự sống còn của Môse không phải là một việc dễ dàng. Pharaôn đã ban chiếu chỉ rằng từng đứa trẻ nam Do thái phải bị ném xuống dòng sông Nile. Đức Chúa Trời đã làm ra một phép lạ (phép lạ thứ nhứt trong nhiều phép lạ) và Môse đã ra đời sớm ba tháng. Điều nầy đã khiến cho bố mẹ ông phải mất một ít thời gian, và họ có quyền giấu Môse trong ba tháng trước thời điểm sanh đẻ như mong đợi. Ở điểm nầy, bố mẹ của Môse đã nhận ra rằng họ phải để cho ông ra đi và nương cậy vào ân điển của Đức Chúa Trời. Họ đã đặt ông vào một cái rương, đặt nó trên dòng sông Nile river, rồi cầu thay xin cho mọi điều tốt nhứt.

Đức Chúa Trời đã sắp đặt khi cái rương trôi nổi trên dòng sông, con gái của Pharaôn xuống tắm nơi dòng sông ấy. Giờ đây, hãy theo dõi cho kỹ hơn. Nàng nhìn thấy cái rương: Công chúa mở rương ra, thấy đứa trẻ, là một đứa con trai nhỏ đang khóc, bèn động lòng thương xót”.

Bậc thánh hiền Do thái đưa ra hai thắc mắc: Thứ nhứt, làm sao công chúa của Pharaôn biết rõ đứa trẻ ấy là người Hêbơrơ? Thứ hai, theo nguyên ngữ Hybálai, câu nói thứ nhứt ám chỉ đến một “ấu nhi nam” đang nằm trong cái rương, nhưng rồi ám chỉ đến một thiếu niên” đang kêu khóc. Tại sao Môsetrước tiên được gọi là ấu nhi, nhưng rồi là một đứa trẻ?

Câu trả lời được đưa ra, ấy là câu nói đang đề cập tới hai đứa trẻ khác nhau. Công chúa của Pharaôn đang mở cái rương ra và nhìn thấy ấu nhi Môse. Khi đó nàng nhìn thấy một đứa trẻ – Arôn, là anh của Môse – và nó đang khóc. Nàng nhận ra rằng Arôn là anh của ấu nhi kia, hai đứa trẻ có quan hệ với nhau, thì hiểu rằng đây là một ấu nhi Hybálai đang ở trong mối nguy hiểm phải chịu chết. Chính tiếng khóc của Arôn đã làm cho tấm lòng nàng rộng mở ra rồi khiến cho nàng phải động lòng thương xót đối với Môse rồi cứu vớt Môise.

Sứ điệp của sự dạy dỗ nầy, ấy là khi chúng ta kêu la cho chính mình, chúng ta bày ra một tác động có hạn. Nhưng khi chúng ta kêu la cho nhau, chúng ta có một tác động lớn lao hơn và có thể vời đến ơn cứu rỗi lạ lùng kia.

Ngày nay, tôi nghĩ rằng sứ điệp nầy có một ý nghĩa lớn lao hơn. Khi người Do thái kêu la cho chính họ, thế giới khó mà chịu nghe lắm. Tuy nhiên, một lần nữa nhiều người Do thái đã bị sát hại, một lần nữa nhiều người Do thái bị bắt bớ. Thế giới há miệng ngáp và cứ tỉnh bơ luôn.

Nhưng khi các anh chị em Cơ đốc của chúng ta kêu la với thế giới vì ích của chúng ta, thình lình thế giới lắng nghe. Chúng ta cần tiếng kêu la của quí vị nhiều hơn nữa kìa. Hãy kêu la vì các anh chị em người Do thái nào đang đối diện với đói kém, bắt bớ, và khủng bố. Hãy mở toang tấm lòng của một thế giới dửng dung ra. Hãy gợi lên lòng thương xót, khích lệ sự trợ giúp của họ, và giúp đưa dân Do thái đến với sự cứu rỗi.